Kính thưa quư vị,
Qua h́nh ảnh và chi
tiết được trưng dẫn trên các diễn
đàn thời gian tuần qua về việc người
Tàu ăn thịt Thai Nhi tại Trung
cộng. Để biết rơ về bọn lănh tụ CSVN
coi trọng con người qua câu: "Con Người là
vốn quư!". Hồn Việt kính
gửi đến qúy vị bài: "Phụ Nữ VN
dưới sự thống trị c ủa cộng sản",
tác giả Việt Thường để thấy
từ Hồ tặc trở xuống, chúng t́m nguồn cung
cấp THAI NHI và "thụ hưởng" ra sao.
Trân trọng,
Hồn Việt -
Việt Thường
Hàng
năm, cứ đến ngày 8-3, chính quyền cộng sản
Việt
1- Gọi là một
nước Việt Nam dân chủ nhưng thực tế lịch
sử đă chứng minh chưa bao giờ nhân dân Việt
Nam lại bị thống trị một cách độc tài,
khát máu như dưới chế độ Hồ chí Minh và
những người thừa kế; ghê tởm hơn cả
thời Minh thuộc và Pháp thuộc;
2- Gọi là cộng ḥa
nhưng thực tế Hồ chí Minh và những kẻ thừa
kế c̣n “vua hơn cả vua”;
3- Gọi là tự do
nhưng thực tế người dân bị tước trọn
vẹn mọi quyền tự do như tự do tư
tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng
trong mọi sinh hoạt xă hội, thực chất là cái ǵ?
Chế độ
xă hội chủ nghĩa (hay cộng sản) là một chế
độ độc đảng trị, lấy đấu
tranh giai cấp, xóa bỏ bất công xă hội làm b́nh phong;
lấy đàn áp, khủng bố làm phương tiện
để g̣ ép quần chúng dưới sự thống trị
của một dúm nhân vật chóp bu của đảng cộng
sản; dùng các hội đoàn để quản lư quần
chúng nhân dân. Cho nên khái niệm “dân chủ” và “tự do” hoàn
toàn xa lạ trong xă hội xă hội chủ nghĩa. Bời
v́ ngay nội bộ đảng cầm quyền – tức
đảng cộng sản – cũng không hề có dân chủ
và tự do. Từ việc bầu ra các cấp ủy cho
đến việc định ra đường lối
chính sách và chỉ đạo thực hiện các chính sách ấy
hoàn toàn nằm trong tay của các ủy viên bộ chính trị
có thực quyền – thường là kiêm ủy viên ban bí
thư. Tất cả nhân sự c̣n lại, kể cả ủy
viên ban bí thư cho đến dự khuyết trung
ương chỉ là những kẻ thừa hành có quyền
hạn ở mức độ khác nhau tùy theo quan hệ
“thân t́nh” với các ủy viên bộ chính trị có thực
quyền. Ngay cả một vài nhân vật tuy đă
được vào bộ chính trị nhưng cũng chỉ
là cái bóng, cái tay nối dài của các ủy viên bộ chính
trị có thực quyền và vẫn có thể bị
quăng sọt rác nếu trót quên thân phận (như trường
hợp Trần xuân Bách…) Một thí dụ điển h́nh về
h́nh ảnh “dân chủ” và “tự do” của nội bộ
đảng CSVN là kỳ đại hội đảng lần
thứ 4 (có ông Gorbachev của Nga-xô tham dự), các đại
biểu được cho học tập để bầu
ban chấp hành trung ương và phải bầu thử. Bầu
thử đến lần thứ hai vẫn chưa vừa
ư “lănh đạo” nên Lê đức Thọ (trưởng ban
tổ chức trung ương) và Trần quốc Hoàn (bộ
trưởng công an) phải đến từng tổ
hăm dọa là “ghi âm” các đại biểu khi phát biểu
và lưu các phiếu bầu chuyển cho Ban bảo vệ
đảng xem xét. Cho nên lần bầu thử thứ ba
đă khớp với ư kiến chỉ đạo của
“trên” nghĩa là Lê Duẩn được cao phiếu nhất
để từ bí thư thứ nhất chuyển danh
xưng thành tổng bí thư, hoàn toàn thắng thế phe
Trường Chinh. Hai triệu đảng viên cộng sản
chỉ được phép bầu (có chỉ đạo) ra
hơn một ngàn đại biểu đi dự đại
hội đảng – cơ quan quyền lực cao nhất của
đảng (như ghi trong điều lệ), mà c̣n không
được hưởng cái quyền “tự do” và “dân chủ”
chỉ trong gần một tuần lễ đại hội
th́ hỏi rằng làm sao quần chúng nhân dân Việt Nam (ngay
cả công nhân và cốt cán lẫn đảng viên thường)
lại được phép biết đến “tự do” và
“dân chủ” trong cuộc đời ḿnh, dưới sự
thống trị của một dúm đảng viên chóp bu cầm
quyền!!!
Phụ
nữ Việt Nam nằm trong phạm trù “quần chúng nhân
dân Việt Nam” nên đương nhiên cũng không thể biết
được mùi vị của các khái niệm “tự do”
và “dân chủ” chừng nào nước Việt Nam c̣n bị
cộng sản thống trị. Bởi lư thuyết kinh
điển của cộng sản coi “con người là tư
bản quư nhất” (L’homme est le capital le plus précieux), nghĩa
là so với các thứ khác như ruộng đất, trâu ḅ
v.v… C̣n Hồ chí Minh giải thích thêm cho đệ tử rằng:
“Nhân dân là vô tận”. Chính v́ con người là “tư bản
quư nhất”, v́ đó là nguồn gốc sinh ra mọi loại
tư bản khác, mọi giá trị khác cho nên người
phụ nữ Việt Nam được Hồ chí Minh và
đảng của hắn lôi ra khỏi vị trí “nội
tướng” trong gia đ́nh và được ban cho quyền
b́nh đẳng như nam giới, nghĩa là làm cái việc
như hiến pháp của nhà nước cộng sản ghi
rằng: “Có nghĩa vụ và quyền lợi lao động”.
Trong chế độ cộng sản, dù có tô màu bằng mọi
uyển ngữ th́ thực tế cho thấy thân phận
người dân chỉ là “nô lệ” của tập đoàn
chóp bu cầm quyền. Mọi người chỉ
được phép ước mơ và thực hiện cho sự
hy sinh v́ sự nghiệp của đảng và “bác” – tức
một dúm chóp bu cầm quyền và Hồ chí Minh, chứ
không được phép bàn bạc việc nước,
được ước mơ ngồi vào vị trí cầm
lái con tàu tổ quốc, được xây dựng hạnh
phúc cho đồng bào của ḿnh, cho gia đ́nh của ḿnh
và cho bản thân ḿnh. Cho nên thực chất của cái mà Hồ
chí Minh và đảng của hắn gọi là giải phóng
phụ nữ chính là tước đoạt quyền xây dựng
hạnh phúc gia đ́nh và cá nhân của người phụ nữ,
đưa lực lượng phụ nữ – chiếm ít ra
là một nửa dân số – vào phạm trù “tư bản quư
nhất” để tăng “tư bản quư nhất” đó
lên gấp đôi một cách “nhẹ nhàng”. Như thế là
chỉ cần một chữ kư ban bố sắc lệnh
“giải phóng phụ nữ” và thi hành “luật hôn nhân và gia
đ́nh”, Hồ chí Minh và các đệ tử đă nhân
đôi lực lượng có “nghĩa vụ và quyền lợi
lao động” để “xây dựng và hoàn thiện chủ
nghĩa xă hội”, nghĩa là xây dựng và hoàn thiện lối
hưởng thụ vương giả cho Hồ chí Minh
và đồng bọn (như xây lăng cho cả cha con Hồ
chí Minh; như bắt dân lục tỉnh đi lao động
nghĩa vụ đào đất lắp sông xây biệt thự
cho Lê Duẩn ở An Phú, Thủ Đức…). C̣n một vấn
đề khác nữa là cộng sản và chiến tranh
như bóng với h́nh. Bởi chiến tranh là sức sống
của cộng sản. Làm chiến tranh để cướp
chính quyền, để củng cố chính quyền, để
mở rộng bờ cơi thống trị. Cho nên lôi lực
lượng phụ nữ ra khỏi tổ ấm gia
đ́nh, ra khỏi chức năng người mẹ,
người vợ để trở thành lực lượng
chủ yếu trong sản xuất và phục vụ sản
xuất – tức là cấu thành nền tảng cho cuộc sống
hưởng thụ của tập đoàn cộng sản cầm
quyền, c̣n nam giới sẽ được sử dụng
chủ yếu cho mục đích chiến tranh bành trướng,
núp dưới cái tên mỹ miều là “cách mạng vô sản
toàn thế giới”.
PHỤ NỮ THAM CHính
“Cơ cấu
thành phần” là khái niệm về tổ chức, một
quái thai “dân chủ” do chế độ xă hội chủ nghĩa
(hay cộng sản) đẻ ra. Nghĩa là từ bộ
máy của đảng (cộng sản) cho đến quốc
hội (bù nh́n), chính phủ, các đoàn thể và thậm chí
đến cả đoàn chủ tịch các hội nghị
(kể cả cấp tổ!), các cuộc mít-tinh v.v… th́ về
nhân sự phải đủ các thành phần nam, nữ, già,
trẻ, người sắc tộc, quân sự, dân sự,
công nhân, nông dân v.v… Nói theo ngôn từ của cán bộ tổ
chức (cộng sản) là phải “đủ mâm đủ
bát”. Tṛ hề này là sáng kiến của Hồ chí Minh nhằm
“cụ thể hóa” cái gọi là “sự đoàn kết của
mọi tầng lớp nhân dân xung quanh đảng (cộng
sản) và bác (Hồ)”! Và, phụ nữ bao giờ cũng
được Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa
hắn quan tâm cho “ngồi cạnh”, cho “chụp ảnh
chung” – biểu hiệu cho việc “giải phóng” và
“được b́nh đẳng” của phụ nữ!(?)
Đó cũng là sự cụ thể hóa cái gọi là “dân chủ
tập trung” của chế độ xă hội chủ nghĩa
của Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế hắn.
Người
phụ nữ trong chế độ Hồ chí Minh v́ đă
được “giải phóng” và được “b́nh đẳng”
nên đương nhiên có đại biểu của giới
ḿnh tham chính, có đại biểu của ḿnh trong cơ quan
lănh đạo của các đoàn thể được
đặt tên là “đoàn thể quần chúng”. Điểm
qua những nhân vật được cho nổi lên, ta thấy
có: Nguyễn thị Thập, Hà thị Quế, Đinh thị
Cẩn, Trương thị Mỹ, Nguyễn thị Định,
Nguyễn thị B́nh, Nguyễn thị Hằng, Hồ thị
Bi, Nguyễn thị Chiên, Cù thị Hậu, Lê thu Trà, Kim Hạnh…
Nếu t́m hiểu
nguyên nhân sự nổi lên của những người
đó th́ thật là… buồn cho chị em phụ nữ. Bởi
v́, không thiếu ǵ người vừa có ḷng yêu nước
vừa có trí thức nhưng chỉ được dùng có
tính chất đối phó với thời cuộc, một
thứ bù nh́n trong sân khấu “dân chủ, ḥa hợp, ḥa giải”.
Đó là trường hợp của các bà như Trịnh thục
Viên, ủy viên ban thường vụ của quốc hội
khóa 1; Phan thị An (nguyên hiệu trưởng trường
nữ trung học Hoài Đức, Hà-nội trước
1945) phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt
Nam; bác sỹ Vũ thị Chín, phó chủ tịch Hội
liên hiệp phụ nữ; bác sỹ Nguyễn thị Ngọc
Phượng, phó chủ tịch quốc hội (khóa 8); các
anh hùng quân đội Nguyễn thị Chiên, Hồ thị
Bi v.v… th́ được dùng làm cái mồi “vinh hoa rởm”
để lừa chị em cố mà hy sinh thật nhiều
cho “đảng và bác”. C̣n lại, số có quyền thực
sự ở các mức độ khác nhau là ai? Đó là Hà thị
Quế, ủy viên trung ương đảng từ khóa 3,
từng giữ các chức phó ban kiểm tra trung ương
đảng, phó ban tổ chức trung ương, hội
trưởng hội liên hiệp phụ nữ xuất thân
từ du kích Yên Thế, từng là giao liên đặc biệt
và bộ hạ thân tín của Trường Chinh. Đó là
Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung
ương đảng khóa 3, đă giữ các chức thứ
trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng
đoàn bộ y tế (thời kỳ bác sỹ Phạm ngọc
Thạch làm bộ trưởng) rồi phó chủ nhiệm
phụ trách thường trực ủy ban bảo vệ bà
mẹ và trẻ em, xuất thân là cấp dưỡng (tức
đầu bếp) của Hồ chí Minh. Đó
là Trương thị Mỹ, phó chủ tịch tổng
công đoàn Việt
Qua những dẫn
chứng về “người thật việc thật” kể
trên, có thể kết luận rằng số phụ nữ tham
chính trong chế độ cộng sản ở Việt Nam
từ trước đến nay, loại trừ một số
bù nh́n chắp vá cho cái áo rách “dân chủ”, hầu hết là kẻ
ăn người ở của vài viên chức cộng sản
chóp bu hoặc là “nhân t́nh nhân ngải” của những nhân vật
cộng sản có thế lực.
Từ Hồ
chí Minh cho đến các đệ tử gần gũi của
hắn đều lớn tiếng kêu gào rằng trong chế
độ cũ (phi xă hội chủ nghĩa), người
phụ nữ là “đồ chơi”, là “đồ trang sức”
cho đàn ông và giai cấp thống trị. Buồn thay, Hồ
chí Minh và đảng của hắn đă “giải phóng” phụ
nữ khỏi cái chế độ cũ ấy để
bước vào chế độ Hồ chí Minh với thân phận
vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức”
vừa là “nô lệ”.
Ngày ban
hành bộ luật “Hôn nhân và gia đ́nh”, Hồ chí Minh đắc
ư tuyên bố rằng thể chế chính trị ở Việt
Nam là tiến bộ nhất v́ là nước đầu tiên
ở khu vực á-Phi
đă xóa bỏ chế độ đa thê. Nhưng cũng
chính Hồ chí Minh đă giới thiệu (không qua bầu
bán) Lê Duẩn thay hắn giữ ghế bí thư
thứ nhất của trung ương cộng đảng
Việt
Sau khi
được ăn hai cái bánh vẽ của Hồ chí Minh
là “được giải phóng” và “được b́nh đẳng”,
người phụ nữ Việt Nam bị khoác vào cổ
một lô gông xiềng “3 đảm”, “tay búa tay súng”, “tay cày
tay súng”.
Trong “3
đảm” có hai khoản là “đảm đang việc
nước” và “đảm đang việc xă hội”, nghĩa
là thay người đàn ông làm lính và nhận gánh nặng
lao động sản xuất trong mọi lĩnh vực của
nền kinh tế quốc dân và kinh tế quốc pḥng cũng
như sức nặng của sưu dịch – tức một
năm tự túc lương thực đi dân công 3 tháng hoặc
gia nhập các đội thanh niên xung phong thường trực.
Người phụ
nữ xưa kia làm nhiệm vụ thờ chồng, nuôi con,
vun vén gia đ́nh ḿnh ở vị trí “nội tướng”
th́ nay được Hồ chí Minh và đảng của hắn
cho làm cùng lúc vừa là lính vừa là nông hoặc công nhân, vừa
là phu phen tạp dịch.
Không chỉ
ở lănh vực sản xuất mà ngay trong lănh vực nghệ
thuật, phụ nữ cũng được sử dụng
như những nô lệ của giới chức cầm quyền
chóp bu. Các “cô văn công” tài sắc thường để
mua vui cho “lănh đạo” khi mệt mỏi, ốm đau và
được dùng trong một số mưu đồ chính
trị. Thí dụ: nữ ca sỹ Khánh Vân được
theo Hồ đi Ấn-độ chỉ v́ nghe nói thủ
tướng Nehru và con gái là Indira Gandhi thích giọng ca của
Khánh Vân. Xong việc, Khánh Vân đau ốm bị bịnh tâm
thần cũng chẳng được chữa chạy và
chết that thảm khốc. Thúy Quỳnh (nay là giám đốc
nhà hát nghệ thuật) là diễn viên múa, có chửa con so
đă được năm tháng mà chỉ v́ yêu cầu của
Fidel Castro muốn có đoàn múa Việt Nam (cộng sản)
nhân quốc khánh Cuba nên nhà nước Hồ chí Minh đă buộc
Thúy Quỳnh phải “phá thai” và chỉ được nghỉ
10 ngày sau khi làm “đọa thai nhân tạo”, đă phải
lên đường đi Cuba “phục vụ nước bạn”!
Ái Loan (chị Ái Vân) một nghệ sỹ cải
lương tài sắc, trước ngày cưới bị bắt
đi vét bùn ở sông Tô Lịch do cống thành phố chảy
ra nên bị chết v́ uốn ván. Ca sỹ Tường Vi của
đoàn văn công Tổng cục chính trị, người
có giọng hát quyến rũ đă “được” anh chàng
đại úy Koong-Le của Lào chết mê chết mệt. Mặc
dù Tường Vi đă có chồng con, nhưng nhà nước
cộng sản Hà-nội lúc đó cũng định “ghép
đôi” để lợi dụng Koong-Le. May mắn sao đại
úy một bước lên trung tướng Koong-Le bị ngă
ngựa chính trị! Nguyễn thị Hằng (nay là ủy
viên trung ương cộng đảng) được một
đô đốc hải quân Nga-xô có “t́nh cảm đặc
biệt” nên được bổ sung vào đoàn quân sự
đi xin vũ khí về giết dân và đặc biệt là
được “đi trước” và “về sau” đoàn.
Để chấp
vá thêm cho tấm b́nh phong che đậy bộ mặt bán
nước hại dân, Hồ chí Minh đích thân viết
thư mời bà Hoàng thị Thế con gái cụ Đề
Thám, ở Pháp về (1960). Sau khi chụp ảnh, quay phim,
báo chí trong và ngoài nước đưa tin đă tới mức
“quá đầy đủ” th́ bà Hoàng thị Thế bị
đưa về “lưu đày” ở Bắc Giang. Cũng
may chính quyền ở tỉnh và huyện hầu hết là
binh lính hoặc con em binh lính cụ Đề Thám nên bà Thế
không bị khó khăn lắm. Thế là Hồ cho lôi bà về
Hà-nội, ở một pḥng thuộc lầu 2 nhà tập thể
trong ngơ Khâm Thiên, tháng tháng ra Mặt trận Tổ quốc lĩnh
một số tiền vừa đủ khỏi chết
đói. Bà Thế xin trở lại Pháp không được
và đă chết già trong cô đơn và nghèo khổ.
Ngay
“được” làm vợ của các “ông lớn” th́ nhiều
phụ nữ cũng vẫn chỉ như “con ở”; chẳng
có chút b́nh đẳng nào trong quan hệ vợ chồng. Thí
dụ như vợ chồng Trường Chinh, trong khi ông
ta ngồi ăn cơm th́ bà vợ mặc áo dài đứng
hầu cơm. Hay như Lê Duẩn, bà vợ cả
được cho qua “gánh việc nước” ở sứ
quán Việt
Nhân dân là vô tận
Đầu đề trên là khẩu hiệu đầy
“sáng tạo” của chính Hồ chí Minh khi phát triển khái niệm
kinh điển của chủ nghĩa cộng sản rằng
“người là tư bản quí nhất”. Chính v́ thế mà Hồ
chí Minh đă tung ra lệnh cho đảng của hắn là
“dù có phải đốt cháy Truơng-sơn” hay “tát cạn
biển đông” – một dạng khác của tư bản
(b́nh thường) th́ cũng phải giải phóng (tức
thôn tính) miền Nam Việt Nam (c̣n hàm ư cả Lào và Cam-bốt)
để thu được “tư bản quư nhất” là
“quần chúng nhân dân” trong đó bao gồm “quần chúng phụ
nữ”. Biểu hiện thành chính sách cụ thể cái
tư tưởng “tàn bạo, khát máu” đó của Hồ,
trước năm 1975, phụ nữ ở cả hai miền
Bắc và Nam Việt
Ở miền
Bắc, phụ nữ vừa là lính; vừa là lao động
chính thay trâu cày bừa trên đồng ruộng, thay máy trong
các công trường xí nghiệp; vừa là phu đi đắp
đường, khẩn hoang, xây dựng các công tŕnh phục
vụ quân sự, hoặc có thời hạn – mỗi năm
3 tháng phải tự túc lương thực, hoặc phải
thường trực – tức thanh niên xung phong. Người
phụ nữ phải làm tất cả những việc nặng
nhọc nhất, hoàn toàn không phù hợp với giới tính;
bị bóc lột sức lao động tàn khốc dưới
cái tṛ thi đua “làm thay cho đồng bào miền Nam”, làm
thay cho “anh Trổi, chị Quyên” để phải lao động
cả 3 ca/ngày và hoàn toàn không có ngày nghỉ trong suốt 3
tháng đi sưu như vậy trong mỗi năm. C̣n nữ
thanh niên xung phong? Được nuôi cơm… độn, một
năm hai bộ quân áo, được đi phép 10
ngày/năm, được lương tháng đủ
ăn… những 2 tô phở theo giá mậu dịch quốc
doanh (nếu là nam giới th́ chỉ đủ tiền một
lần hớt tóc). Điều đáng nói là chị em phải
lao động không kể giờ giấc, hoàn cảnh,
địa h́nh, t́nh trạng sứ khỏe. Nghĩa là ngày
kinh nguyệt cũng phải lội sông, ngâm bùn, gánh nặng,
ốm bệnh cũng phải lao động; lao động
không kể ngày đêm: từ làm đường ở
Trường-sơn cho đến phá bom nổ chậm; từ
tải thương cho đến gánh vác súng đạn. Ấy
thế mà trong thực tế người nào cũng phải
làm đơn “xin hiến” 10 ngày phép năm cho “đảng”
và “bác” cho đến khi “cách mạng thành công” và c̣n thi
đua “mặc áo cũ không lănh áo mới” để tiêt kiệm
tiền của vào việc “đánh Mỹ-Ngụy”! Mỗi
tháng c̣n vài lần nhịn ăn lấy gạo
“giúp đồng bào miền
“Bác Hồ dạy
chúng ta
Không có việc
ǵ khó
Đào núi và lấp
biển
Quyết chí cũng
làm nên”
Nhưng
chỉ có thơ ghế đá mới nói đúng số
phận của nữ thanh niên xung phong:
“Em là thanh niên xung
phong
Đắp
đường, tải đạn, long đong tháng ngày
Đảng
nuôi hai bữa một ngày
Cơm độn
ba bát, muối đầy ḷng tay
Áo quần hai bộ
đổi thay
Một năm
đi phép 10 ngày… “có lương”
Cho nên chẳng
có người thương
Xuân t́nh chợt
gặp giữa đường với nhau
Nói ra bảo kể
khổ đau
Thời gian thấm
thoát bước mau về già
Sốt rừng
da mái, mắt ḷa
Đảng cho
giải ngũ về nhà ăn rơm!
Tuổi xuân
chôn chốn Trường sơn
Nhiều cô thai
nạo vứt chân cây rừng
Về làng chân
bước ngập ngừng
Tương lai
mờ mịt, gối trùng, lưng cong
Biết khôn
đă chót vào tṛng!!!
Hai chính
sách rất tàn bạo của Hồ chí Minh và cái đảng
mafia của hắn đối với phụ nữ miền
Bắc Việt Nam (kể cả một số vùng trong Nam gọi
là “vùng giải phóng) là đem phụ nữ làm cái mồi
câu, làm vật khen thưởng mua bán (nhất là phụ nữ
ở nông thôn): một là tổ chức theo lối cưỡng
bức để buộc nữ thanh niên lấy chồng là
thương bệnh binh – nhất là những người
lính bị tàn phế nặng – làm chồng mà c̣n phải làm
đơn t́nh nguyện “lao động nuôi chồng” không nhận
một thứ trợ cấp nào. Chính sách tàn bạo này
đă là nguyên nhân của biết bao vụ “vợ đầu
độc chồng” cho thoát nợ đời hoặc
người vợ đành… tự tử chết mà không nhắm
được mắt. Hai là tổ chức cưới cho
những thanh niên bị bắt lính trước khi nhập
ngũ vài ngày nhằm trút gánh nặng lao động bên gia
đ́nh người tân binh lên đầu người phụ
nữ, nhằm lấp lỗ hổng trong luật nghĩa
vụ quân sự về khoản “miễn đi lính cho những
thanh niên là con một trong gia đ́nh”. Nhà nước Hồ
chí Minh tổ chức lấy vợ cho thanh niên đến
tuổi bắt lính và lư luận rằng: “Khi người
thanh niên con một có vợ th́ không c̣n là con một nữa
v́ vợ cũng là con trong gia đ́nh nên không được
miễn lính như luật nghĩa vụ quân sự qui
định”!!! C̣n nữa, đó là ràng buộc t́nh cảm
người lính với “quê hương” để yên tâm
đi chiến đấu cho “sự nghiệp của đảng
và bác” v́ cha mẹ đă có vợ “đảm đang” (khoản
thứ 3 trong đường lối “3 đảm” của
phụ nữ), hệt như ngón vơ “tập kết ra Bắc”
của năm 1954. Người phụ nữ vừa kịp
hưởng tuần trăng mật với chồng nay sống
trong sự chờ đợi c̣n nhức nhối hơn
Pénéllope chờ chồng sau cuộc chiến thành Troie, bị
cột cho sợi dây “vợ bộ đội cụ Hồ”
để trói vào guồng máy “lao động quên ḿnh v́
nước v́ chồng! Chính nó là nguyên nhân
đẻ ra bao chuyện “bi hài” của xă hội miền Bắc
Việt
Điều
đáng lưu ư nữa là chính cái cảnh “chồng Nam vợ
Bắc” khổ hơn cả vợ chồng ngâu (ít ra một
năm được gặp nhau một lần) cộng với
đời sống kinh tế khó khăn cùng cực và quyền
sinh quyền sát của các cấp ủy đảng nên chị
em vắng chồng trở thành đàn gà con trước cấp
ủy đảng quạ. Nạn chửa hoang, phá thai từ
nông thôn đến thành thị là chuyện “quá b́nh thường”.
Người phụ nữ đi phá thai được
“đảng và bác” bảo vệ tuyệt đối bí mật
(như bí mật quốc pḥng). Các cơ sở nạo thai
chỉ biết nạo thai theo yêu cầu của người
nạo. Không cần một giấy giới thiệu nào, không
được hỏi họ tên và “tác giả” của thai
nhi. Sáng vào nạo, chiều ra về, cứ như đi lao
động “thông tấm”, hàng xóm có tọc mạch cũng
đành chịu. Các bào thai nạo ra được chế
biến thành thuốc bổ, nghe nói c̣n hơn “lợn hà
nàm”. Đó cũng là nguồn “lấy thu bù chi” của cơ
sở nạo thai, tất cả trực thuộc ủy ban
bảo vệ bà mẹ và trẻ em do chính thủ tướng
Phạm văn Đồng làm chủ nhiệm và Đinh thị
Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng
đảng từ khóa 3, xuất thân là đầu bếp của
Hồ chí Minh, làm phó chủ nhiệm phụ trách thường
trực. Thế là dưới chế độ Hồ chí
Minh, tục “người ăn thịt người”
được khuyến khích như quốc sách và phụ nữ
ngoài chức năng là “đồ chơi”, là “đồ
trang sức”, là “nô lệ” lại c̣n nhiệm vụ “sản
xuất thêm chất đạm” – tức thai nhi – cho xă hội!
C̣n phụ
nữ ở miền Nam th́ sao? Tất nhiên Hồ chí Minh và
cái đảng mafia của hắn đă triệt để
lợi dụng thể chế chính trị ở miền Nam
trước 1975 có lỏng lẻo và nhiều sơ hở,
nghĩa là có việc độc tài độc diễn, có việc
dân chủ quá trớn, cùng với sự “nhẹ dạ” và
“ḷng yêu nước” của phụ nữ để lập
ra những đội quân”tóc dài”. Những chị Quyên (vợ
anh Trổi mà nhà thơ cung đ́nh Tố Hữu “lộn”
tên làm thơ khi gọi là Trôi lúc gọi là Trổi!), chị
Tạ thị Kiều, Chị Trần thị Lư v.v…
được đề cao, đến mức Tố Hữu
hạ bút vẽ tàu bay… giấy cho chị Lư:
“Em là cô gái hay
nàng tiên
Em có tuổi
hay không có tuổi?
Tóc của em
hay là mây là suối?…”
Nhưng
cũng chị Lư ấy sau 1975 về ở Đà-nẳng
đến tận 1991 vẫn khổ như ăn mày v́ bệnh
tật, lương thấp, chồng cũng là
thương binh. Đảng bận hưởng thụ
quên đă đành, ngay chính nhà thơ kiêm chính trị và kinh tế
gia (loại 3 xu) Tố Hữu cũng quên luôn sau khi lĩnh
một đống tiền nhuận bút về bài thơ. Chỉ
có chị Quyên, nhờ được vào “bưng” ở với
“chú” Nguyễn hữu Thọ và “chú” Trần bạch Đằng,
nên được phóng viên báo Cứu quốc (Hà-nội) là
Thái Duy đi công tác B (tức xâm nhập miền Nam) đổi
tên thành nhà văn giải phóng Trần đ́nh Vân, phóng vấn
viết một truyện ngắn “người thực việc
thực” được đích thân Tố Hữu đặt
tên truyện là “Sống như anh”, nên sau 1975, vào lúc “anh Trổi”
được tạc tượng và được đặt
tên cho đường phố Sài-g̣n, chị Quyên được
các “chú” kiếm cho một tấm chồng khác và được
cho ngồi ghế giám đốc nhà hàng Vĩnh Lợi
(đường Hàm Nghi, quận nhất, Sài-g̣n). Đúng là
có số “quư nhân phù trợ”, mệnh “giáp thọ giáp đằng”!
C̣n số
phận đội quân tóc dài? Xin dành để bạn đọc
t́m trong truyện ngắn “Tượng đài” của Hoàng
thiếu Phủ đăng trên tờ “Tuổi trẻ
cười” hiện nay của Sài-g̣n, rất đầy
đủ.
Ngoài cái
số đội quân tóc dài đó ra, phụ nữ miền
Nam Việt Nam có chồng là sỹ quan, binh lính, nhân viên chính
quyền Việt Nam Cộng Ḥa v.v… bị lừa đi tù (học
tập cải tạo) cũng bị đảng mafia của
Hồ theo đúng sách của đảng trưởng để
lợi dụng “triệt để”. Đó là đem chị
em ra làm phần thưởng cho tù nhân. Tất cả các trại
tù của cộng sản Việt Nam đều áp dụng
chính sách rằng tù nhân nào “cải tạo tiến bộ” sẽ
được phép “ngủ với vợ ḿnh 24 giờ, 48
giờ hoặc hơn” – tùy theo mức độ tiến bộ
hoặc số lượng tiền đút lót công an. Trong lịch
sử Việt Nam, có lẽ chỉ có cái đảng mafia của
Hồ chí Minh mới đủ vô liêm sỉ là đem vợ
tù ra làm phần thưởng cho tù, chưa kể sự bẩn
thỉu thú vật của lũ công an là chọc tường
để ŕnh xem vợ chồng tù ngủ với nhau để
kháo thành chuyện cười của bọn chúng và trêu chọc
người tù được ngủ với vợ của
ḿnh!
Sau sự
“đứt phim” năm 1975, miền Nam được “hoàn
toàn giải phóng” nên phụ nữ miền Nam được
đi vào vết xe đổ của phụ nữ miền
Bắc, nghĩa là vừa là “đồ chơi” vừa là
“đồ trang sức” vừa là “nô lệ”. Nam thanh
niên cũng được vét vào lính để “giải
phóng Cam-bốt”, để khi trở về hoặc “lê trên
nạng gỗ” hoặc nằm trong bệnh viện “chờ”
một chị em nào đó dại dột nghe lời đảng
“cơng về làm chồng… hờ”, may mắn lắm th́
được hỏa thiêu cho vào lọ sành đem về
cho gia đ́nh, hoặc thất nghiệp đi lang thang ngoài
phố “chiêm ngưỡng” các anh chị hải quan, thủy
thủ tàu viễn dương, công an các loại và con cái giới
quan lại đỏ nhậu nhẹt và khoe bộ cánh hợp
thời trang! Và, phụ nữ lại gánh toàn bộ sức
nặng của mọi loại h́nh sản xuất và phục
vụ sản xuất của xă hội.
Con
đường phụ nữ miền Nam phải đi sau
lá cờ đỏ sao vàng hệt như phụ nữ
miền Bắc trước đây, đă ai oán rằng:
“Chồng bị
bắt lính phương xa
Mẹ cha cải
tạo chết già rừng sâu
Ngày cày thay kiếp
ngựa trâu
Đêm
làm cái nệm để hầu quan viên:
- Đảng ủy,
chủ tịch ưu tiên
Trưởng
công an xă tiếp liền theo sau
Ơn đảng,
nghĩa bác dày sâu
Nhân dân thành
đĩ, thành trâu hết đời
Thấu t́nh
chăng, hỡi Đất, Trời?”
Nhiều
chị em, chồng bị lừa đi tù (cải tạo),
đă phải chịu sự cưỡng ép bán thân cho quan lại
đỏ để yên thân nuôi con và có thể đi thăm
nuôi chồng, như trong vụ án Hai Hiệp ở Đồng-nai,
hay như bà chủ tiệm phở Thủy-tiên ở phố
Tự Do (Đồng khởi) Sài-g̣n với tên Ngọc, chủ
tịch phường… Ngay một diễn viên điện ảnh
nổi tiếng, từng bị ghép là nhân viên của CIA Mỹ,
cũng đành đến nhà riêng “chú” Cao đăng Chiếm
(thứ trưởng công an, phụ trách khu vực miền
Nam) cho nên mới được “chú Chiếm” viết lá
thư cầm tay ra Hà-nội gặp riêng “chú” Phạm Hùng (bộ
trưởng công an), nhờ vậy cô diễn viên có cái phận
“Thúy Kiều” đó mới được Hồ tôn Hiến
(của cộng sản chứ không phải của cụ Nguyễn
Du) đặc cách cho thăm cả chồng sau và… chồng
trước. Hơn thế, ông chồng sau c̣n được
thả sớm hơn cả thượng sỹ canh cửa
sân bay Tân Sơn Nhất và được… vào cả quốc
hội làm đại biểu của dân (may thiệt).
Đau
khổ của phụ nữ Việt Nam c̣n phải nhắc
đến những người ra đi phải bỏ xác
ngoài biển, phải chịu cảnh cưỡng hiếp
của hải tặc, phải nằm chôn năm tháng trong
các trại với bao nhục nhằn. Mà, tác giả những
bất hạnh đó của phụ nữ vẫn là Hồ
chí Minh và cái đảng mafia của hắn. C̣n phải kể
đến biết bao chị em bị bán làm nô lệ
(dưới cái uyển ngữ “hợp tác lao động”)
sang Nga, Trung Đông v.v… trong cảnh mang con bỏ chợ.
Được sự chỉ đạo của đảng
mafia tác giả các văn tự bán nô lệ đó chính là Trần
đ́nh Hoan và Nguyễn thị Hằng – cô bồ tỉnh
Thanh của ông lang băm cách mạng Xuân Thủy. Cho nên
đến đại hội đảng mafia lần 7, cả
Hoan lẫn Hằng đều được là trung ủy
chính thức!
Năm 1986, vở hài kịch
“mở cửa” và “đổi mới” được quảng
cáo rùm beng. Những màn đầu tiên là các khách sạn, nhà
hàng xưa kia bị đảng mafia đổi cho tên mới,
nay lại “đổi mới” thành tên cũ, như ở
Sài-g̣n: Đồng Khởi trở lại Continental, Hữu
Nghị trở lại Palace, 147 Đồng Khởi trở
lại Brodard v.v…Và, ngay đó là các cuộc thi đủ loại
hoa hậu được tổ chức với sự
đỡ đầu của thương nhân nước
ngoài. Kinh doanh đĩ điếm là nét đặc trưng
của mafia. Cho nên cái đảng mafia của Hồ chí Minh
cũng không ra ngoài qui luật của tṛ chơi mafia thông
thường. Chỉ có điều nó được công
khai hóa với “mở cửa” và “đổi mới”. Nếu
xưa kia – trước 1975 – ở cảng Hải-pḥng có những
tổ chiêu đăi viên là nữ để phục vụ thủy
thủ nước ngoài, kể cả thân xác, do cơ quan an
ninh quản lư với lư do vừa thu ngoại tệ (dùng cho
công tác gián điệp) vừa moi tin t́nh báo và t́m cộng sự
viên (tức điệp viên) ở nước ngoài, th́ nay lực
lượng “chiêu đăi viên” nhiều gấp bội lần
và công khai hóa, thí dụ như quán Lan Thành ở phố Nguyễn
Thiệp, Sài-g̣n (phố nối liền Đồng Khởi
– Nguyễn Huệ). Nếu xưa kia ở khu họp hành và
nghỉ ngơi của trung ương đảng cộng
mafia gồm những căn nhà kiểu “cottage” của Anh
trên dẻo Hồ-tây có những nữ thanh niên được
chọn lọc để mua vui cho lănh đạo đỡ
“buốt đầu” th́ nay ở ngành nào, bộ nào cũng
có nhà khách ở Sài-g̣n, Đà-lạt và người phụ
trách nhà khách kiêm việc “kiếm gái” cho lănh đạo. Nhiều
nhân vật nổi lên từ nghề ma-cô quốc doanh này,
điển h́nh là tay Trường, hiện là giám đốc
Cilturimex của Sài-g̣n – cơ quan thuộc bộ văn hóa
thông tin của nhạc sỹ cung đ́nh Trần Hoàn (quan thầy
của Trịnh công Sơn).
Trong chính sách “mở cửa”
và “đổi mới” phụ nữ trở thành mặt hàng
có thể nói là quan trọng của giới mafia cầm quyền.
Chẳng có thế mà ngay giữa Sài-g̣n, một cơ quan gọi
là “t́m việc cho thanh niên” thuộc thành đoàn thanh niên do Lê
văn Nuôi làm bí thư, và do thành ủy quản lư với Vơ
trần Chí, ủy viên bộ chính trị mafia, đứng
đầu, đă công khai tuyển các nữ thanh niên và
đánh lừa cho ra các khách sạn ven biển như Vũng
Tàu “làm đĩ”. Giám đốc cái cơ sở “ma-cô” mafia
quốc doanh đó là Nguyễn anh Dũng. Sự bung ra làm
kinh tế đĩ điếm lan sang đến cả các
ngành như đường sắt, thư viện, ṭa án, bệnh
viện v.v… đều lấy mặt bằng làm nhà hàng và
tuyển người đẹp, trẻ, nhẹ dạ
để làm chiêu đăi viên (tức đĩ). Phụ nữ
được từ Nguyễn văn Linh đến Đỗ
Mười; Vơ văn Kiệt dùng làm mồi câu “Việt kiều
yêu nước” và thương nhân nước ngoài. Nhiều
“Việt kiều yêu nước” đă “áo gấm về
làng” lấy vợ lẽ (vừa là lẽ vừa ít tuổi)
ở quê hương để tỏ rơ ḷng yêu nước
mặn nồng. Nhà nước chắc nhớ đến
trường hợp ông tổng bí thư đă chết Lê Duẩn,
3 vợ, nên không gây phiền hà ǵ cho các “Việt kiều yêu…
đa thê”. Phải chăng những người cầm quyền
nhớ câu “trai anh hùng năm thê, bảy thiếp” mà “bác” Hồ
đă phong cho nhân dân Việt Nam là anh hùng, nghĩa là “sấm”
cho đệ tử phải dùng vơ “phục hồi đa
thê” để phục hồi kinh tế, củng cố nhà
nước… độc đảng cộng sản?
Nhiều “Viềt kiều
yêu nước” thăm quê hương trở ra hải ngoại
không ngớt lời khen Hà-nội, Sài-g̣n… thay đổi nhiều
lắm! Nhưng, thay đổi cái ǵ? Bộ mặt các thành
phố, thị xă ở Việt Nam hiện nay nhiều màu sắc
chói chang là nhờ lực lượng phụ nữ bị
chính sách “mở cửa” và “đổi mới” của cộng
sản lôi từ nông thôn ra để nhập vào đạo
quân thần Bạch Mi, với áo quần hợp thời
trang do… buôn lậu nhập vào, đă giết chết hàng nội
địa. Số liệu công khai của nhà nước
Đỗ Mười, Vơ văn Kiệt dự đoán có 600
ngàn điếm ở Việt Nam, hiện nay. Con số
đó c̣n rất xa với sự thật. Nó có thể xấp
xỉ số lượng đảng viên của tổng bí
thư Đỗ Mười hiện nay, nhưng có điều
tốc độ phát triển của nó nhanh gấp nhiều
lần tốc độ phát tiển đảng (cộng sản),
bởi nó được sự quan tâm của cả “ba
gịng thác cách mạng” là đảng cộng sản Việt
Nam, thương nhân nước ngoài và “Việt kiều yêu
nước”.
Người dân miền
Bắc Việt Nam đă thấy các tṛ hề về các ngày
lễ từ trước 1975. Cho nên đă lưu hành trong
dân thơ ghế đá về các ngày “hề” của cộng
sản, rằng:
“Nhớ ngày
mùng 3 tháng 2
Liềm búa lễ
đài máu đỏ mưa sa
Nhớ ngày mùng
8 tháng 3
Đàn ông
đi lính, đàn bà đi phu
Nhớ ngày 26
tháng 4
Thanh niên chết
trận hoặc tù quanh năm
Nhớ ngày mùng
1 tháng 5
Công nhân đào
đất xây lăng “bác Hồ”
Hai mươi
tháng 7 lập lờ
Thương
binh, tử sĩ được tờ “vẻ vang”
Bước
sang tháng 8 rơ ràng
Phất cờ
khởi nghĩa, xóm làng mừng vui
Nào ngờ vận
nước c̣n xui
Mùng 2 tháng 9 ngậm
ngùi Việt Nam
Aí quốc lại
hóa Việt gian
Chiến tranh
huynh đệ tương tàn từ đây
Con côi, vợ
góa, mẹ gầy
Rừng xanh tàn
úa, máu đầy biển Đông…”
Chừng nào c̣n là chế
độ cộng sản độc đảng trị th́
nhân dân Việt
Với Việt Nam lúc
này có hai cách nh́n khác nhau: một, của những người
có ngoại tệ mạnh nhằm hưởng thụ “tứ
khoái” và hai là của đại đa số nhân dân Việt
Nam c̣n nghèo khổ, không có tự do, không có hạnh phúc. Cái thứ
nhất nh́n từ ánh đèn vũ trường, bàn tiệc
nhà hàng, qua đôi vai trần của người phụ nữ
phải bán thân xác. Cái thứ hai nh́n qua những túp lều
chắp vá, qua băi rác, qua đồng ruộng bùn lầy, qua
rừng hoang tàn, qua bờ hè v.v… Cho nên nghe một người
“bàn” về chuyện Việt
C̣n đại đa số
nhân dân Việt
“Ông Anh, ông Kiệt,
ông Mười
Dở khóc, dở
cười biết chọn ông nao
Ông nào ông nảo
ông nao
Một đồng
một cốt làm sao bây giờ
“Cửa mở”
ra phải giấy tờ
“Đổi mới”
nh́n lại vẫn thờ mấy ông
Đèn cù cứ
chạy ḷng ṿng
Dân chủ cái
c̣ng, tự do đói ăn
Hạnh phúc chú
cuội cung trăng!!!”
Tháng 2-1993