Hai Mùa Xuân
Việt
Thường
Đầu năm 1967
Chỉ
c̣n một tuần lễ nữa là Tết Đinh Mùi. Hà-nội năm đó
lạnh lắm. Bến Phà-đen lại
càng lạnh v́ gió từ mặt sông Hồng đưa lên.
Trong mặc áo bông trấn thủ, ngoài mặc
áo bông xanh cổ lông mà tôi vẫn thấy người run
bần bật. Bến tàu thủy đi
Thái B́nh đây rồi, nhưng sao tối thui và im lặng
thế. Đường lầy lội, tôi vừa
dựng xe đạp th́ có bóng đèn pin
loáng trên mặt tôi và tiếng cười vui của giám
đốc công ty vận tải đường sông
Hà-nội:
- Chào anh Trọng Kính*. Anh ra sớm thế. Nửa
tiếng nữa mới nhổ neo.
Tôi chào lại và nh́n xuống bến,
Chiếc tàu Giải Phóng nằm im ĺm. Một
thuyền viên nhắc giùm tôi xe
đạp lên boong tàu. Thấy tôi chẳng nói ǵ, ông giám
đốc gặng hỏi:
- Anh có nhận xét ǵ không?
-
Được lắm. Ngoại trừ một ánh đèn
pin vừa xong của anh c̣n th́ tối đen như mực.
Giám đốc cười
hỉ hả:
- Này, xin báo cáo với anh là hành khách đă xuống
hết rồi đấy, thế mà không một ánh lửa,
không một tiếng ho. Chúng tôi đă chấp hành triệt
để lệnh trên về pḥng không nhân dân. Máy
bay Mỹ có đến lúc này th́ cũng mù tịt chẳng
thấy ǵ hết. Anh nhớ nhấn
mạnh điểm này trong bài viết của anh nhé.
Tôi ph́ cười:
- Các anh yên tâm. Chúng tôi có nhiệm vụ viết để
động viên chứ có bao giờ phê b́nh đâu. Lănh
đạo bộ giao thông, lănh đạo sở giao thông
thành phố và cả bộ biên tập báo bên tôi cũng
đă căn dặn rồi. Khác tư chút là
khỏi in, anh đừng lo.
ùm… ùm
C̣i tàu thủy vang lên trên mặt sông,
trầm trầm, loăng dần vào sương mù.
Thuyền trưởng Bách từ dưới bến đi
lên chào tôi:
- Báo cáo anh, được
sự chỉ đạo của đảng ủy và ban
giám đốc công ty, được học tập về
điều lệnh pḥng không nhân dân, tàu Giải Phóng II chúng
tôi đă có quyết tâm thư gửi lên Hồ chủ
tịch, lên trung ương đảng, lên chính phủ, lên
quốc hội, lên đảng đoàn và đồng chí
bộ trưởng giao thông vận tải, lên tổng công
đoàn, lên đoàn thanh niên lao động, lên thành ủy và
ủy ban thành phố, lên đảng ủy và ban giám
đốc sở giao thông vận tải thành phố, lên
hội đồng pḥng không thành phố, lên liên hiệp công
đoàn Hà-nội… kiên quyết không để xảy ra
thiệt hại về tài sản và… và… về người
nếu giặc Mỹ dám đánh vào bầu trời
Hà-nội. Tất cả thuyền viên đều có
quyết tâm thư hy sinh thân ḿnh cứu
tàu, cứu máy nếu t́nh huống xấu nhất xảy
ra.
Tôi không dám cười v́ lời chào tràng
giang đại hải thế. Đă quen với
lối ăn nói “mới” từ sau 1954 đến nay, dù là
ở cấp bộ hay cấp tổ; dù là ở cơ quan
văn hóa hay đội vệ sinh, th́ đều nói,
nghĩ và viết theo cái mẫu có sẵn như vậy. Tôi cũng chẳng giận v́ cứ phải rét
muốn chết mà cũng chưa được xuống
tàu tránh gió, tránh lạnh. Cũng như bạn
đọc báo, họ cũng phải đọc cái lối
viết theo mẫu của chúng tôi, y
như ta điền mẫu đơn vậy. Những chỗ chấm chấm th́ điền tên
người, ngày, tháng, năm sinh; tên cha, tên mẹ và v.v…,
chỉ khác nhau ở chỗ đó. Nếu tiêu
đề các đơn từ có phần mở đầu
là “Việt Nam dân chủ cộng ḥa, độc lập,
tự do, hạnh phúc”; th́ mở đầu bài báo cũng có
cái khuôn chung như vậy: “dưới sự lănh đạo
sáng suốt của đảng và Hồ chủ tịch”.
Thuyền trưởng Bách bố trí cho
giám đốc công ty vận tải đường sông
Hà-nội – thủ trưởng của anh ta – và tôi ở
pḥng của thuyên trưởng. Vừa
lên boong tàu chưa được vài phút th́ tàu rời
bến sau một hồi ùm… ùm… ùm. Tiếng
c̣i tàu thủy nghe lúc nào cũng có cái vẻ chia ly, buồn
bă. Tôi vào pḥng lái xem thuyền
trưởng Bách lái tàu đi trong sương mù. Sương bao bọc làm cho sông chẳng có
bến, có bờ, có đầu, có cuối. Mùa này nước sông cạn. Tàu
chạy chầm chậm, tiếng máy run nhè nhẹ. Tôi
nh́n trong đêm cái dáng cao lớn của thuyền
trưởng và tưởng như con sông in trong đầu
anh. Chợt có tiếng gơ vào kính, ông giám
đốc làm hiệu gọi tôi ra. Chẳng cần
nghe ông ta nói, tôi cũng hiểu đây là cái khoản “ấm
bụng”, nghĩa là tư rượu “quốc lủi” bên
Từ-sơn và… món nhậu th́ thật là tươm tất,
phong phú.
Ca-bin thuyền trưởng rộng
hơn chiếc giường cá nhân tư chút, mấy ô kính có rèm
vải che kín. Khi cửa mở, ánh
đèn vàng yếu ớt hắt ra. Mâm rượu
đầy ắp, nào thịt chó luộc, dồi chó, cả
một con ngỗng quay đă chặt, xếp đến
tận miệng chiếc nồi nhôm, rồi lạc rang và
các thứ rau với bánh đa nướng.
Ông giám đốc xoa tay cười
khô khan (chắc là nước miếng đang tứa ra):
- Ta chiến đấu đi anh. Thằng
Bách c̣n phải lái tàu.
- Lính vận tải của các anh, cả bộ cả
thủy, đều hào phóng thật.
Ông ta ừ à, c̣n măi vắt chanh vào chén
mắm tôm, rồi chế thêm một th́a rượu. Cái món nước chấm này bốc lên ngan ngát làm
dạ dày cồn cào. Rượu uống bằng chén ăn cơm. Nó tê tê, êm êm, nóng ran trong
miệng, ấm áp lan xuống họng,
xuống bụng; mùa đông đang bị đẩy ra:
Tôi cắn một miếng giềng, cay
cay đầu lưỡi. Cắn thêm
một miếng ớt, cả miệng nóng lên.
Miếng thịt chó luộc, phần má của con chó, ṛn mà
không quá mỡ; vài cánh rau húng, vài hạt lạc và mẫu
bánh đa lớp rớp trong miệng… làm thần kinh
lưỡi đê mê, làm đầu dịu lại. Chợt
ngửng mặt lên, phía đầu giường của
thuyền trưởng, ngay sát trên đầu ông giám
đốc ảnh của ông Hồ chí Minh lồng khung kính
đặt trên bàn thờ tổ quốc, mặt đỏ
au, gần bằng màu cánh hoa hồng cắm trong lọ
cạnh đấy. Chỗ nào ông ấy cũng
trườn mặt ra, tài thật! Tôi e hèm:
- Này ông giám đốc, ai
ở sau lưng anh ḱa?
- “Cụ” chứ ai. “Cụ”
cũng cảm thông cho lính tráng gian khổ quá nhiều
phải “cải thiện” mới có sức phục vụ
“Cụ” và cách mạng chứ.
Tôi vờ làm giọng nghiêm:
- Các anh mua rượu
ở đâu? Tiền đâu mà các anh ăn
tiêu như thế này?
Vẫn cái giọng lúng búng mồm đầy thịt:
- Tất cả đều
là “lộc” của “Cụ” cả. Ai bảo
“Cụ” cho phép mấy thằng tỉnh ủy Hà-bắc
được nấu rượu lậu để
nộp cho Ban bảo vệ sức khỏe của trung
ương làm rượu thuốc. Ai bảo ban
chủ nhiệm các hợp tác xă cho vợ con và tay chân đi buôn chuyến. Và… và… “Cụ”
lại cho con quản lư đội tàu này…
Ông ta cười ha hả, hẳn lư thú v́ câu nói có duyên
của ḿnh, bắn cả thức ăn
trong miệng ra. Một mẩu thịt dính vào
mặt tôi. Thế là cái hứng
“nhậu” của tôi lắng xuống. Hết cơn
cười, ông ta lại nói:
- Cánh nhà báo các anh lạ
tỏng ǵ nữa mà giả vờ. Lương thằng Bách
mà có bảy chục một tháng th́ ăn ǵ, chưa nói
đến thuyền viên, làm sao mà thi đua cho nổi, làm
sao động viên chúng nó được. Cho nên tôi lờ
đi, một thứ giao kèo ngầm mà, cho chúng nó chở ít
hàng lậu, khách lậu, bán trộm ít dầu, nhớt
để cải thiện. Miễn là chúng nó
phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch là
được. Anh xem, từ ngày tôi về làm giám
đốc ở đây, ba năm liền là đơn
vị “lao động xă hội chủ nghĩa” rồi
đấy, năm rồi được nhận lẳng
hoa của Hồ chủ tịch.
Đúng là tôi biết, c̣n nhiều hơn nữa, cả
cái khoản tàu, các xà-lan tự hành phải “nộp cống”
cho ông; rồi ông lại “nộp cống” lên ban giám
đốc và đảng ủy của sở và sở
lại “nộp cống” lên thành và bộ. Chỗ
nào cũng thế cả. Có khác là từ
tháng 8-1965, Mỹ ném bom ra miền Bắc, th́ cánh vận
tải cả ô-tô, tàu thủy, xà-lan và tàu hỏa – là vớ
bẫm nhất. Bọn họ giàu nhanh
như thổi và dễ… lấy vợ. Giáo
sư, bác sỹ và… nhà báo th́ vẫn cứ nghèo mạt
rệp.
Tôi tụt khỏi giường, quờ
chân t́m đôi dép lốp. Ông giám đốc hỏi:
- Đi
đái hả? Lạnh
lắm, hé cửa, ghếch ṇng súng đái mẹ nó ra ngoài
boong ấy. Tôi vẫn làm thế đấy, không th́ cụt
hứng v́ đi với lại.
- Anh ngồi lai rai đi, tôi tạt xuống xem hành
khách sinh hoạt ra sao mới biết đường mà
viết chứ.
Cánh cửa ca-bin khép lại mà tôi c̣n nghe tiếng
cười “nịnh” của ông giám đốc đuổi theo. Báo chí tuy nghèo nhưng lúc này lại có
sức mạnh, nhất là từ khi ông Hồ chí Minh
đề ra việc biểu dương “người
tốt việc tốt”, “người thật việc
thật”, coi đây là một trong các biện pháp xây dựng
“con người mới xă hội chủ nghĩa”. Những
người được báo chí biểu dương
dễ được nhận huy hiệu của “Hồ chú
tịch”, đấy là sự thoát ra ẩn số khỏi
cái đám quần chúng, để đứng ở ngơ vào
“đại lộ quan lại”. Những đơn vị
được biểu dương sẽ đạt thành
tích thi đua, toàn đơn vị được nâng
quỹ tiền khen thưởng, nâng quỹ phúc lợi và
bộ tứ lănh đạo – đảng, chuyên môn, công
đoàn, thanh niên – sẽ được nâng lương,
đề bạt ở chức cao hơn hoặc cho phép
đơn vị ph́nh to ra. Cho nên các tỉnh,
các ngành đua nhau họp báo, chiều chuộng cánh báo chí.
Họ tưởng mấy thằng cha
viết báo quyền hành lắm đấy. Sự
thật th́ họ có tiếp đăi nồng hậu hay không
cũng chẳng sao… C̣n nhà báo chỉ ngồi
nhà cũng viết được. V́ tất cả là
dựa vào các loại báo cáo của các ngành – do tuyên huấn
đảng ủy cơ sở soạn thảo – đă
được đảng ủy các cấp thông qua, từ
số liệu mọi loại chỉ tiêu, từ các cá nhân
tích cực với bản tự khai và sơ yếu lư
lịch, hàng chục con dấu đỏ ḷe loẹt. “Thực tế” đấy, cứ dựa vào
đó mà viết. Đại loại là lúc đầu
có khó khăn – hậu quả của xă hội cũ –
nhưng rồi có sự lănh đạo của đảng
ủy, mọi người nhớ đến “bác”, không
muốn cho “bác” buồn, thế là dựa vào các nghị
quyết của trung ương, các văn kiện đại
hội đảng, ḷng căm thù “Mỹ-Ngụy” mà
vươn lên. Kể cả khi viết về các ca mổ
gan khô của bác sỹ Ty, đỡ những ca đẻ
khó của bác sỹ Th́n ở bệnh viện C, cũng
vẫn theo cái công thức chung như
thế. Cho nên việc nhà báo đi cơ sở cũng
giống như mấy diễn viên hôn gió khán giả,
chỉ là tăng thêm phần thân mật mà thôi.
Tổ trưởng thuyền viên Tâm, có biệt danh Châu
Xương v́ có hàm râu quai nón loại chổi xể, từ
hầm hành khách bấm đèn pin cho tôi xuống thang.
Đứng sát Tâm, tôi bảo anh cứ để tôi tự
nhiên như một khách đi tàu.
Tối quá. Lối
đi toàn chân người ch́a ra. Tôi
đi về mạn đuôi, xin lỗi được t́m
một chỗ ngồi. Giọng một bà cụ:
- Chú ngồi đây. C̣n rộng chán. Càng đông càng
ấm chứ sao.
Tôi ngồi xuống cạnh bà cụ.
Bàn tay bà cụ nắm vào tay tôi, lạnh,
xương xẩu, sần sùi, hơi run run. Tôi khẽ
hỏi cho có lệ:
- Mẹ đi đâu đấy?
- Tôi đi gần đây thôi – Hưng-yên ấy mà. Thế chú đi đâu?
- Con đi Thái-b́nh
Bà cụ thở dài:
- Nghe nói bên đó mất mùa. Lại
đói nữa thôi. Chẳng biết
đến bao giờ mới được bữa ăn
no. Cũng tại thằng Mỹ cả
thôi. Đến cụ Hồ mà cũng bữa cơm
chỉ có vài quả cà xứ Nghệ. Thật, nghĩ
đến cụ mà chỉ muốn khóc.
Tôi miễn cưỡng “vâng” mà ḷng ngao ngán tự
hỏi: “ăn cơm với vài quả
cà mà ngày càng béo múp đầu múp đuôi. Sao dân
chúng c̣n khờ quá vậy”. Chợt
nghĩ ḿnh cũng đang trong bộ máy tuyên truyền xuyên
tạc của ông ta, tôi thấy ḿnh quả có tội
với những người dân chân thật này. Rồi trong tôi lại nổi lên “thằng bào
chữa cá nhân” rằng ḿnh đi nhiều nhưng chỉ
viết những thứ vô thưởng vô phạt. Cho dù vậy, tôi vẫn tự véo đùi ḿnh
để tự trừng phạt. Bỗng tay tôi chạm phải một cái đùi nóng
hôi hổi qua lớp vải mỏng. Chẳng
cần quay lại nh́n người ngồi bên, tôi cũng
biết đây là một cô gái. Tôi vội rụt tay lại. Và, lúc này thoang
thoảng qua mũi tôi một mùi là bưởi, bồ
kếp có chút mùi lá sả. Tôi cúi xuống
ngửi áo của ḿnh. Mùi nước đái con nít
nhưng vẫn khai. Vợ chồng tôi vẫn phải
lấy chiếc áo bông này đắp cho đứa nhỏ,
mà con bé hay đái dầm quá thế mà áo th́ cứ để
qua mùa đông mới giặt được. Nhà có mỗi
cái chăn bông đắp hai vợ chồng và đứa
con lớn. Tôi đi vắng th́ ba mẹ con được
nằm chung. Nghĩ
đến ḿnh hôi hám, tự nhiên ngượng với con
người sạch sẽ ngồi bên.
Có tiếng chuông lanh canh, tàu như
dừng lại. Hành khách lao xao
đứng lên gọi nhau ư ới. Cửa bên
hông tàu mở ra, gió lạnh thổi vào cùng với tiếng
mời mua quà bánh. Đây là băi Tự-nhiên
(thuộc Hưng-yên), tàu không vào bến trong mùa nước
xuống nên khách phải đi đ̣ ra và vào bến.
Các thuyền con của nhà hàng vây quanh tàu như một
cuộc họp chợ. Tất cả
đều làm ăn, trả tiền, th́ thào trong bóng
tối, không một ánh đèn hay lửa.
Bà cụ ngồi bên tôi lên bến này.
Tôi d́u bà cụ dậy, nắm chặt tay
bà cụ trong tay, tôi cảm thấy một nỗi tê tái dâng
lên. Bàn tay mẹ tôi bây giờ cũng
gầy, xương xẩu và sần sùi như vậy,
ấy thế mà có thời là hoa khôi kia đấy. Sự khốn cùng và thời gian đă tàn phá
hết cả.
Cuộc mua bán, ăn uống, đưa hàng lên tàu,
chuyển hàng xuống thuyền, những câu th́ thầm,
những cái đập tay và tiếng
cười cầu tài… phải gần nửa tiếng
đồng hồ sau mới xong. Con tàu lại rồ mát nhè
nhẹ. Chỗ bà cụ lên bến ngồi có
hai thanh niên nồng nặc mùi rượu. Một anh chàng hơi thở như mùi lạc
thối phả ngang mũi tôi.
- Bác ngồi xích vào chút
nữa đi.
Tôi chưa kịp xích th́ anh thanh niên thứ hai đă
nói:
- “Tàu là nhà, hành khách là chủ”, khẩu hiệu này dán
từ ở pḥng bán vé cho xuống đến tàu, anh không
thuộc hay sao mà cứ đ̣i ngồi thoải mái!!!
Cô gái cạnh tôi dịch một chút và khe khẽ
với tôi:
- Anh dịch vào đây cho các anh ấy ngồi. Mỗi người chịu đựng một
chút vậy.
Tiếng
nói này đúng là “dân Hà-nội” chính gốc. Nhẹ nhàng như tiếng gió, trong như
tiếng hạc. Giọng cô ta nghe sao sang trọng và
dơng dạc lạ thường.
Anh chàng ngồi cách tôi một người lè nhè
giọng rượu:
- Chà, chà, có “phún” (tiếng
lóng là phụ nữ) là vui rồi. Cô em
giọng ngọt ngào như thế chắc là hát hay lắm.
Đề nghị phục vụ bà con một bài đi.
Cô gái ngồi im, chợt cái đùi hơi
cựa cậy. Tôi cảm thấy sức nóng từ
đùi con gái trinh nguyên truyền qua tôi, tuy đă hai lần
quần vải gai. Tiếng anh chàng hôi mùi lạc thối
ồm ồm:
- Hát đi cô em. Thanh niên “ba
sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang” mà nhát
bỏ mẹ! Thế th́ đánh Mỹ sao
nổi?
- Các anh là giặc lái
đây (tức lái xe ô-tô). Mới
từ khu bốn lửa đạn về thăm gia
đ́nh. Hát đi rồi về quê anh chơi, anh chi
hết tiền tàu xe đi xe về
lại c̣n quà cáp nữa, ừ đi!
Cả tàu im lặng, chỉ có tiếng
máy rù rù và sóng nước ́ oạp đánh vào mạn tàu.
Anh chàng hôi mùi lạc thối đập tay
vào đùi tôi:
- Ông anh làm ơn
đổi chỗ cho đàn em đi. Xin “các”
ông anh hai gói Điện-biên giấy bạc hút cho vui. Được không?
Cầm tay anh ta, tôi đặt về đùi anh ta,
nhưng cố t́nh bóp tay anh ta thật mạnh – thị uy
sức mạnh mà – :
- Tôi cũng sắp tới
bến rồi. Hai anh hát trước đi.
Hẳn là hiểu sự cảnh cáo “ḥa b́nh” của tôi,
anh ta cười cười:
- Ông anh “tập tạ” hay
sao mà khỏe thế. Bóp gẫy mẹ nó bàn tay
câu cơm của đàn em rồi. Ừ, hát
th́ hát.
Rồi quay sang bạn:
- Này Thọ
sùi, tao với mày đồng ca bài “Mười yêu” đi.
Và, hai thanh niên mới – sản phẩm của ông
Hồ chí Minh – cùng hát, đúng ra là gào lên:
“Một yêu anh có peugeot (1)
Hai yêu anh có Seiko (2) đàng hoàng
Ba yêu anh có bộ đồ sang
Bốn yêu hộ khẩu rơ ràng thủ đô
Năm yêu không có bà bô (3)
Sáu yêu Văn-điển ông bô sắp về (4)
Bảy yêu lái xe là nghề
Tám yêu phe phẩy, lè phè, nhởn nhơ
Chín yêu bạc lắm, tiền dư
Mười yêu dù lớn, dù vừa che thân (5)
Với em, tiêu chuẩn phu quân
Rơ ràng cho xứng mười phân vẹn mười
Bà con ơi, xin chớ có cười!”
Tiếng hát vừa dứt, hai anh chàng tự
vỗ tay tán thưởng trước.
Một số khách đi tàu cũng
vỗ tay theo. Anh chàng “lạc thối” lớn
tiếng:
- Ngồi đây mới
biết là c̣n sống về lễ ông bà, ông vải ngày
Tết bà con ạ. Thuốc lá Điện-biên bao bạc
đây, xin mời bà con hút một điếu đoàn
kết cho vui.
Cả tàu bỗng nhao lên gọi phần
thuốc được mời. Anh chàng
lễ phép mời tôi và cô gái bên cạnh. Có tiếng Tâm
“Châu Xương” sang sảng:
- Lệnh pḥng không, cấm
lửa bà con ơi. Đề nghị
triệt để chấp hành điều lệnh pḥng
không nhân dân khi đi tàu.
Bạn anh “lạc thối”, có tên Thọ sùi, nổi
giận:
- Đéo cho hút th́ thôi, bà con giữ làm
kỷ niệm năm hết Tết đến vậy.
Tiếng Tâm nạt lại:
- Đề
nghị đồng chí ăn nói đàng hoàng, đừng
văng tiếng Đức như thế.
- Nói tiếng Cu-ba, Cu-mẹ được không?
Mấy người già giàn ḥa. Tâm bỏ đi, c̣n hai anh chàng “giặc lái” vẫn
ấm ức văng tục một lúc nữa.
Tôi chợt nhớ đến tiếng
“đồng chí”, giờ đây nó được dùng vào lúc
người ta định đối phó với nhau,
định chụp cho nhau các kiểu mũ. Lại cũng một sản phẩm ngôn từ
nhăn hiệu Hồ chí Minh.
Cô gái khẽ nói với tôi:
- Anh làm ơn cho em lách ra,
sắp tới bến em phải lên rồi.
Tôi như hụt hẫng:
- Vậy hả… chúc cô năm mới mọi
điều may mắn tốt lành nhất.
- Em cám ơn anh. Xin được kính chúc anh và gia
đ́nh sức khỏe, công tác tốt.
Cô gái cúi người nhặt chiếc túi xách
dưới gầm ghế, mớ tóc lao
xao và hương lá bưởi, bồ kếp lại bay
lên. Tôi khẽ hít đầy lồng ngực.
Tôi lên boong tàu. Nghe
tiếng chèo thuyền lơm bơm mà chẳng thấy thuyền.
Cái lạnh ngấm nghía. Cái
lạnh tái tê. Khi tàu chuyển
động, tôi đi về pḥng thuyền trưởng.
Mâm nhậu chỉ có ḿnh ông giám đốc, tay
c̣n cầm cái chân chó, bát nước sáo trong mâm, ghếch đầu
dưới bàn thờ ông Hồ chí Minh, đang ngáy như
Trương Phi.
Vừa kịp ngồi lên giường th́ một
thuyền viên mở cửa bê cho tôi tô sáo chó nóng hôi hổi. Tôi húp một miếng mà chẳng cảm thấy
mùi vị ǵ. Thoang thoảng bên mũi tôi
như vẫn c̣n mùi lá bưởi, mùi bồ kếp và lá
sả. Tôi đưa điếu
thuốc lá cho anh thuyền viên. Anh ta đưa lên
mũi hít hít và cười thú vị:
- Điện biên giấy bạc đây.
Tiêu chuẩn Vân-hồ (6) đấy. Em xin anh.
Tôi thấy ḿnh như đang đi trong sương mù,
không đầu, không đuôi, không bến, không bờ: người
đầy tớ vĩ đại nhất của nhân dân
đang trên bàn thờ “Tổ quốc”; người
đầy tớ trung thành của nhân dân đang nằm ngáy
o o, tay c̣n cầm chiếc chân chó nấu sáo. Những
người chủ của đất nước đang chen nhau dưới hầm tàu hôi hám. Và tôi, người có lư lịch là thành phần “bóc
lột” đang được giai cấp công nhân phục
dịch, vâng dạ.
Mùa xuân năm 1971
Bộ nông nghiệp tổ chức họp báo giới
thiệu những đơn vị và cá nhân có thành tích
chăn nuôi lợn. Sau hội nghị, tôi
được phó giám đốc kỹ thuật của
“trại lợn giống” ở tỉnh Thanh-hóa mời
về thăm trại. Chúng tôi đi tàu hỏa
đến ga Phủ-lư rồi từ đó đi bằng xe đạp.
Phó giám đốc Tân tốt nghiệp khóa
1 trường trung cấp nông lâm. Quê anh
là Đồng-kỵ (Hà-bắc), nơi làm pháo nổi
tiếng cả nước. Ai chưa
được dự ngày “Hội pháo” của Đồng-kỵ
th́ quả là một thiếu sót lớn. Dân
Đồng-kỵ chịu chơi lắm và rất hiếu
khách.
Chiếc xe đạp của tôi
được sản xuất tại quê hương
của Lénine và Staline, nặng như cái cùm, lại cao lêu
nghêu. Xe của Tân làm tại Việt
Khởi hành từ 5
giờ sáng, đến giờ gà lên chuồng buổi
chiều, bọn tôi đă ngồi trong văn pḥng của
trại, uống ly trà xanh với th́a đường Cu-ba màu
cánh gián. ở đây, ông Hồ chí Minh cũng chễm
chệ ngồi trên bàn thờ “Tổ quốc”; cũng có ba
nén nhang và ngọn đèn dầu lửa, chiếc băng
tang viền quanh khung ảnh. Xung quanh
tường là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn
Đồng, Tôn đức Thắng, Nguyễn lương
Bằng, Hoàng quốc Việt.
Mặt trời đă khuất, mà
tiếng b́m bịp vẫn nỉ non vọng vào. Trại chỉ có ba đàn ông, c̣n toàn đàn bà, con
gái. Ba đàn ông là Tân, phó giám đốc;
- Này Tân, tên là Cú mà
người có cú không?
Kinh khủng anh ạ. Như con mụ
phù thủy. Mụ ta cũng ém em dữ lắm nên
đến nay em vẫn ở ngoài đảng, mặc dù
mọi sự điều hành do em.
-
Thế sao cậu được
đề bạt phó giám đốc?
Trại này em
đến từ lúc có ba con lợn nái và con lợn nọc.
Một tay em gầy dựng nên,
đồng chí trưởng ty của tỉnh về
thăm chịu em lắm, mà ông ấy là thường
vụ tỉnh ủy nên ông ấy kư lệnh đề bạt
em. C̣n vấn đề đảng th́ ông
ấy đành chịu v́ phải dựa vào cơ sở.
- À ra thế.
Dụ dự một hồi, Tân hỏi:
-
Anh chắc… đảng thâm niên lắm
nhỉ?
Tôi ph́
cười:
-
Bạch vệ như cậu thôi.
-
Em tưởng phóng viên báo các anh là
đảng viên hết.
Không là đảng viên
hết nhưng tất cả đều do đảng
trả lương và sử dụng, như cậu vậy.
Tôi th́ mệt, C̣n Tân có vẻ suy nghĩ
lung lắm. Từ lúc ấy cả hai
chỉ lo mải mê đạp cho chóng đến trại
c̣n được nghỉ ngơi.
Đến bữa ăn tối, tôi mới
được gặp bí thư
đảng Cú và giám đốc Tơ. Trại này đă quen
tiếp khách thập phương đến tham quan nên ra
vẻ lắm. Bí thư Cú qua nghi lễ
giới thiệu của Tân dùng cả hai tay lắc mạnh
tay tôi, cười nhe bộ lợi màu bùn than và hàm răng
nhuôm nhuôm:
- Chào đồng chí nhà báo.
Thay mặt lănh đạo đảng, chuyên môn, công đoàn
và thanh niên trại lợn của tỉnh Thanh-hóa, tôi
nhiệt liệt hoan nghênh sự có mặt của đồng
chí. Đây là sự khích lệ to lớn cho
chúng tôi phấn đấu hoàn thành vượt mức
kế hoạch cả năm. Chúc đồng chí
sức khỏe, lăn ḿnh vào thực tế của
trại để giới thiệu kinh nghiệm của
trại chúng tôi cho cả nước cùng nhau thi đua “chắc
tay cày tay súng” (7) v́ công ơn và sự nghiệp của
Hồ chủ tịch vô vàn yêu quư và vĩ đại.
Dứt lời, bí thư Cú rút hai tay
lại và theo thói quen vỗ vào nhau đôm đốp như
trước cuộc mít-tinh vậy. Giám đốc Tơ vỗ theo, rồi đến Tân và tôi
cũng phải vỗ tay đáp lễ.
Bốn người vào tiệc.
Nếu bí thư Cú vừa béo vừa lùn
bao nhiêu, hai con mắt lươn tí hư, cái mồm trư bát
giới th́ giám đốc Tơ lại cao và gầy bấy
nhiêu, hai con mắt ốc nhồi và cái mồm rộng ngoác.
C̣n Tân khá điển trai với nước da mánh mật,
hai con mắt sáng, thông minh, đầu cắt theo
kiểu Tố Hữu – ḷa x̣a trước trán. Bữa cơm đầy vẻ khách khí. Bí thư Cú ra công tiếp thức ăn cho tôi,
c̣n giám đốc Tơ im lặng, thỉnh thoảng
chạy ra chạy vào – theo lệnh bí thư Cú – lúc thêm trái
ớt, đĩa ḷng gà xào dứa, lúc bát canh gà nấu bí
đao. Tân và tôi mệt và đói nên đánh chén
rất thực ḷng. Đă lâu lắm tôi
mới cảm thấy bữa cơm ngon như thế, y
như mẹ tôi hoặc chị tôi nấu ở nhà
những ngày có giỗ.
Sau bữa ăn, bí thư Cú muốn
tôi về pḥng khách của trại ngủ, nhưng Tân
rủ tôi về chỗ ở của Tân, lấy cớ là
trao đổi với tôi một số vấn đề
chuyên môn.
Căn pḥng ngủ của Tân liền ngay pḥng làm
việc. Văn pḥng trại sơ tán theo
lệnh pḥng không của tỉnh. Giường ngủ
cũng như chỗ bàn làm việc có hào ra khỏi nhà vào
ngay hầm trú ẩn chữ A. Khá an toàn
về máy bay nhưng hào và hầm lại có sức lôi
cuốn rắn các loại.
Tôi cứ tưởng ngủ ngay được,
nhưng khi Tân ghé tai tôi nói:
- Thức ăn chiều nay anh có
thấy cái vị Hà-nội không?
Tôi chợt nhận ra điều đó và
gật đầu. Tân th́ thào:
- Một đồng
hương của anh đang ở đây và nấu cho anh ăn đấy. Em định
kéo cô ấy ra cho anh cám ơn “chị nuôi” (8) nhưng cô
ấy nhất định không chịu ra, chỉ nh́n qua khe
vách. Mọi khách khứa khác cô ấy
không bao giờ rụt rè như thế đâu. Cùng người Hà-nội với nhau, hay là cô
ấy biết anh?
Tôi bật cười:
- Làm ǵ có chuyện đó. Cậu này nhiều chuyện thật.
Tâm không nói ǵ, yên lặng hít vài hơi
thuốc lá đen, mùi thật nặng của thuốc
Cẩm-thùy (một huyện của Thanh-hóa).
Đột ngột Tân kéo ghế lại sát giường
tôi:
- Em có chuyện này muốn
kể với anh, nhưng anh phải thề không cho ai
biết kia đấy.
- Nếu quá bí mật th́ thôi đừng kể. Ḿnh hay
trống miệng lắm. Giấu cái ǵ trong
bụng là y như người muốn đẻ vậy.
Vẻ quan trọng, Tân cầu khẩn:
- Anh là nhà báo, có học,
đọc nhiều, tâm lư, lại là người Hà-nội,
anh nghe em kể đi, chuyện của riêng em chứ
đâu có là bí mật quốc gia. Em muốn
được anh chỉ bảo cho. Các anh ở báo
Nhân dân, Cứu quốc, Tiền phong… hôm họp ở
bộ nông nghiệp nói với em rằng anh là “chính ủy”
của họ. Hễ ai có ǵ buồn hay khó khăn, nghe anh
phân tích là yêu đời lại ngay. Anh giúp em
đi.
Nh́n đôi mắt van lơn của Tân, tôi ph́
cười:
- Th́ ra vậy mà cậu
nằn ń bằng được Ban thi đua của
Bộ để mời tôi về đây.
Tân cười như xin lỗi:
- Công tư lưỡng
lợi anh ạ. Nhiều lúc em muốn điên cái
đầu lên, anh biết không? Có lúc em nghĩ đến
cả giết người hay tự tử nữa kia đấy.
- Chà, chà. Lâm ly, bi đát nhỉ. Cứ như là Othenlo
lên cơn ghen ấy. Có cà phê không?
- Có chứ. Arabica của nông
trường Đồng-giao đấy. Thằng bạn cùng khóa với em làm kỹ
thuật ở đó. Anh muốn cả
tạ cũng được. Xă hội nào ch́ cũng
“thợ may ăn bớt vải, thợ
mă ăn bớt hồ”.
Tôi cười:
- Các cụ ḿnh giỏi
thật. Nói câu nào trúng phóc câu ấy. Có lẽ v́ thế mà các cụ bị “cách
mạng”.
Trong khi Tân pha cà-phê, tôi hỏi:
- Nói thật nhé, mới liếc
qua cả tổ chức lẫn lều trại, ḿnh
thấy trại này của cậu hoang sơ quá thế mà
sao lại được chọn là điển h́nh hả?
Tân thích trí cười sằng sặc:
- Anh tinh thật. Các anh
bạn anh bảo anh giả ngây giả ngọng vậy thôi
chứ con ruồi bay qua cũng biết đực cái.
- Nghe cánh nhà báo th́ bán thóc giống và… lợn giống
đi mà ăn. Có đàn ḅ đi qua th́ ḿnh biết con nào
đực, con nào cái. Thôi, thành thật khai đi, không
phải để viết báo đâu, ḿnh ṭ ṃ thôi, có thế
mới mách nước chuyện riêng của cậu.
- Vâng. Bọn em một
mặt làm báo cáo cho kêu, một mặt “cung cấp lợn
giống” theo giá “lợn chết” cho các
vị có quyền từ tỉnh đến bộ.
- Giá “lợn chết” là thế nào?
- Thí dụ con lợn giống 5 kí-lô bán cung cấp là 15
đồng. Nhưng bán cho vợ con các cụ
ấy – về nuôi hoặc bán lại lấy lời – th́
hạ từ 5 kí-lô thành 3 kí-lô và coi như vận chuyển
bị chết hoặc chuồng chật mà chết, thế
là c̣n bán có năm hào một con thôi. Như vậy tránh
tiếng tham ô, hối lộ.
- Thế c̣n các vị ở bộ họ cũng nuôi à?
- Số nuôi lợn cũng
có, nhưng ít lắm. Họ bán lại cho mấy
người Trung quốc ở phố Hàng Buồm, nên
mới có lợn quay “bán chui” chứ! Những
3 đồng rưỡi một kí-lô móc hàm.
Tôi ngồi im, nh́n những giọt cà-phê
sánh lại chảy giọt từ cái phin nhôm xuống
chiếc ly thủy tinh. Một nỗi
căm phẫn bùng lên. Tôi muốn chửi thật to
cái lũ nhà báo, giáo sư, trí thức
nước ngoài đă ca ngợi, vẽ vời cho Hồ
chí Minh và đảng của hắn. Họ chẳng
biết một tư ǵ cái “thực” của miền Bắc
Việt
Cà-phê thơm thật là thơm
nhưng uống với đường màu cánh gián Cu-ba th́
thật là phí, nó chua ngoét. Tôi nhớ cà-phê bà
Sính ở đường Cột-cờ và cà-phê Hói ở
đầu Bà Triệu (Hà-nội).
Tôi nh́n Tân, động viên:
- Nào, kể chuyện riêng
của cậu đi.
Tân e hèm hai ba lần, cứ như con cắc kè
trước lúc tắc lưỡi, mới nói
được:
- Em kể chẳng
đầu chẳng đuôi lại tóm tắt cho anh c̣n
đi ngủ, anh bỏ lỗi cho em nhé.
Tôi cười:
- Không sao. Cứ nói theo ư nghĩ của cậu. Nói đến
sáng cũng được.
Muỗi nhiều quá, tôi mắc màn, và hai
chúng tôi ngồi trong màn nói chuyện.
Tân bắt đầu:
- Cái cô nấu cơm cho anh
ăn chiều nay tên là Mai. Lưu Nghiêm
Hoàng Mai. Cô ấy là người Hà-nội
đấy. Xưa kia gia đ́nh có cửa hàng
đại lư bán và sửa chữa radio ở gần Chợ
Mơ. Năm 1960 bị qui là tư sản mại bản,
bị tịch thu nhà cửa. Ban cải tạo cho hai
điều kiện, hoặc ông bố cô ấy phải
đi cải tạo tập trung hoặc cả gia đ́nh
phải đi kinh tế mới ở miền núi. Và gia
đ́nh cô Mai đă chọn điều kiện hai: Cả
nhà vào lập nghiệp ở huyện Thạch-thành
(Thanh-hóa) này. Cả cơ nghiệp chỉ có ít áo quần,
chăn màn, nồi niêu với hai trăm đồng vốn
sau khi đổi tiền. Số tiền dư thừa
bị ngân hàng quản lư không được phép chi tiêu, và
sau khi trừ nợ thuế – tính từ 1945 – th́ chẳng
những không c̣n đồng nào ở ngân hàng mà c̣n nợ nhà
nước hàng ngàn đồng tiền thuế. May làm sao,
gia đ́nh sau khi về Thạch-thành đem theo
được một chục trứng gà
Nghe đến đó, tôi không nén được:
- Mụ ấy nói vậy sao?
Tân run giọng v́ phẩn uất:
- Em thề là nhớ không
sai một chữ. Mụ c̣n hăm dọa là nếu em c̣n
nuôi ư nghĩ lấy cô Mai làm vợ th́ mụ sẽ
đề nghị tổ chức cho em chuyển công tác đi
nơi khác hoặc sẽ cho cô Mai vào thanh niên xung phong đi
đắp đường ở Trường-sơn.
Xa xa, chợt có tiếng cú vọng vào.
Tôi tưởng như hồn của mụ Cú, bí thư đảng, đêm nhập vào thân chim
để kêu tiếng kêu ma quái của mụ. Cũng có
thể mụ đang kêu gọi hồn ông Hồ chí Minh
về soi sáng mụ hơn nữa về đường
lối đấu tranh giai cấp.
Tân ngừng một lúc rồi trầm giọng:
- Em không sợ cho em v́ dù
sao bố em cũng là thương binh chống Pháp. Em lo cho số phận cô Mai. Mụ Cú sẽ
trút mọi sự tàn nhẫn lên đầu cô Mai, mà như
thế có nghĩa là cả lên mẹ và hai em nhỏ của
cô ấy. Em đành nuốt hận và c̣n phải theo
lệnh của mụ ta viết bản tự kiểm
thảo với lời hứa trên giấy trắng mực
đen là không bao giờ được có quan hệ
“luyến ái vô tổ chức” với cô Mai.
Tôi cắt ngang:
- Cô Mai có
biết chuyện này không?
Tân do dự:
- Cũng có thể. Như
em đă nói, cô ấy là loại sống nội tâm và vị
tha. Cô ấy rất ít nói lúc nào cũng khép kín
ḿnh. Nhưng vẫn giữ quan hệ b́nh
thường với em, tuy có lúc em cảm thấy như cô
ấy muốn tránh mặt.
- Thí dụ?
- Chẳng hạn cô ấy mượn các sách giáo khoa
cấp ba của em để tự học mà không chịu
cho em kèm học như trước. Có một điều…
- Một điều làm sao?
- Em thấy mụ Cú căm thù lắm.
- Quan điểm giai cấp cực đoan chăng?
- Không phải. Mụ Cú th́ biết ǵ
về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Mụ
ấy là người dốt nhất thế giới, đó
là con vẹt anh ạ. Chính chồng mụ, trước khi
lấy mụ, là thành phần tiểu tư sản: một
giáo viên chuyển sang làm công tác thông tin của huyện.
Mụ căm thù cô Mai v́ đố kỵ nhỏ nhen, v́ cô
Mai trẻ, đẹp, giỏi và nết na
hơn mụ. Đây là cốt lơi của
vấn đề. Anh không biết chứ, mụ ta là
một dâm phụ, đại dâm phụ.
Tôi ph́ cười:
- Mụ ấy phải ḷng
cậu rồi chứ ǵ?
Tân bật cười theo:
- Mụ không thích mẫu
người như em mà thích thằng
Hai nhân vật đó chợt hiện lên
trước mắt tôi. Cam to cao, da mai mái, tóc rễ
tre, có cặp mội dày như hai múi bưởi gắn vào
mồm, lúc nào cũng ươn ướt, hao hao giống
môi Phạm văn Đồng. C̣n Tôn, nếu đeo cặp
kính trắng và cái đầu lúc lắc, tóc dài chút nữa và
rũ rượi ra th́ đúng là Xuân Diệu. Tôi nh́n Tân
hỏi lại:
- Có thật thế không?
Tân tṛn mắt như ngạc nhiên:
- Chính em thấy tận
mắt bọn chúng bay bạ với nhau tay
ba! Lúc đầu em không tin là sự thật mà
tưởng như nằm mơ. Phải
đến lúc bọn chúng đập nhau đôm đốp
và cười cùng cực em mới tin là sự thật.
- Ngoài ra cậu liệu có
ai biết chuyện này không?
- Em không biết. Ngay như em, biết cũng chẳng
dám nói. Anh là người thứ hai
được em kể lại. Người
thứ nhất là bố em. Em kể cho ông nghe, ông vơ ống điếu đập vào
đầu em và nói: “Mày mê một tư sản mại
bản mà vu cáo bí thư đảng. Tôi mày đáng bắn
vỡ đầu, đáng thắt cổ trôi sông. Mày mà không
đoạn tuyệt với những ư nghĩ phản
động ấy th́ tao sẽ đích tay
bắn chết mày để khỏi mang tội với
đảng và Hồ chủ tịch. Đảng
bao giờ cũng đúng và đảng viên là tinh hoa vủa
giai cấp công nhân. Mày nhớ cho đến chết,
nghe chưa!”
Rồi Tân buồn rầu:
- Và, bố em đă chết v́ đứng tim khi nghe bộ trưởng phủ thủ
tướng Nguyễn Khang, ủy viên trung ương
đảng, làm hại đời con gái của bạn.
Càng về khuya, trời càng lạnh.
Con cú tai quái vẫn rúc liên hồi đâu
đó. Tôi phủ cái chăn chiên của nhà máy dệt
Nam-định lên người mà vẫn run. Tân hỏi tôi:
- Có mứt gừng ăn Tết đấy, anh ăn cho nóng
người nhé.
Tôi gật đầu. Tân
lục đục một lúc rồi cầm cả lọ
mứt vào. Tôi nhấm một miếng,
vị cay, ngọt, âm ấm. Miếng
mứt khô và cứng vừa đủ. Tôi hỏi:
- Mứt thương
nghiệp tỉnh đây hay ở quê cậu mà khá thế. Y như mứt Hà-nội trước 1954.
Tân nhấm nháp, gật gù có vẻ tự hào:
- Bà mẹ cô Mai nấu
lấy đấy. Th́ đă bảo dân
Hà-nội chính hiệu mà anh. Đủ
cả “công, dung, ngôn, hạnh”. Như anh
ở tuổi đó chắc chị ấy cũng khéo,
chứ em xem bây giờ con gái cỡ bọn em toàn “3
đoảng” chứ chẳng “3 đảm” chút nào (tức
là đảm đang việc nhà; đảm đang việc
nước; đảm đang việc xă hội). Kén vợ khó lắm anh ạ.
- Cũng chẳng trách
họ được, v́ những thứ “công, dung, ngôn,
hạnh” bị coi là tính cách của giai cấp bóc lột,
của khuôn mẫu cho người phụ nữ trong xă
hội coi “đàn bà là đồ chơi, tôi mọi” nên
bị đả phá.
Tân cười hiền lành:
- Thú thật với anh, em
nghĩ “công, dung, ngôn, hạnh” của người phụ
nữ chính là vật liệu dựng nên lầu đài
hạnh phúc gia đ́nh đấy ạ. Đàn bà kiểu
mụ Cú hay mụ Tơ th́ có chết hết đàn bà em
cũng không màng tới họ, thà lấy con ḅ cái làm vợ
c̣n hơn.
Tôi bật cười:
- May mà ông cụ nhà cậu
chết rồi, chứ c̣n sống chắc ông ấy
thắt cổ cậu đem trôi sông rồi đấy.
- Tội nghiệp bố em, ông ấy cuồng tín
đến mù ḷa.
Tôi gạt đi:
- Thôi, kể tiếp
chuyện cô Mai đi. Đừng nói
đến người đă khuất nữa mà mang
tội.
Tân e hèm:
- Chắc anh cũng
mệt v́ đạp chiếc xe Liên-xô
cả ngày rồi. Ngủ đi cho khỏe.
Mai em đưa anh đến chỗ cô Mai để
thấy “người thật việc thật”, anh sẽ
sửng sốt, không khéo chết đứng như Từ
Hải của cụ Nguyễn Du.
Tôi chập chờn đi vào giấc
ngủ với một linh cảm rằng cái cô Hoàng Mai này có
liên quan ǵ đó đến cô gái mà tôi gặp trên chuyến
tàu thủy đi Thái-b́nh vào dịp Tết mấy năm
về trước. Tôi mơ thấy một
gương mặt buồn, nặng nề chịu
đựng; thấy tiếng gà cục tác, thấy hoa
bưởi rơi trắng sân, mùi thơm
ngan ngát; mùi sắn nướng thơm làm sao, bùi bùi, nóng nóng
và một vị ngọt thoang thoảng trên đầu
lưỡi. Tất cả đều hư ảo, không rơ
ràng, chẳng hiện hẳn ra mà cũng chẳng chịu
biến đi. Thế rồi tôi tỉnh
dậy. Nhiều năm bị cải
tạo đă thành phản xạ có định h́nh. Tôi
vừa mở mắt th́ cái loa công cộng của trại
lợn giống cũng ồm ồm bài nhạc tập
thể dục buổi sáng. Trời lạnh
buốt nhưng tôi cũng nhảy ra khỏi giường
làm vài động tác thể dục. Tân
vừa đi đâu về, nhấm nháy bảo tôi mặc
quần áo đi ngay.
Qua một nương sắn, trước mắt tôi
là căn nhà lá xinh xắn. Chưa tới gần đă nghe
một giọng đàn ông khàn khàn chửi:
- Tiên sư cha thằng
Hồ chí Minh, mày đánh lừa tao! Tiên sư cha thằng
bác sỹ cưa hết cả chân, tay
của tao! Tao sống th́ ngày ngày chửi mày, tao chết th́
kiện mày tận ba ṭa Diêm-vương.
Tôi chưa hết ngạc nhiên tột độ th́ Tân
khẽ nói:
- Chồng cô Mai
đấy. Ngày nào cũng chửi như thế đủ
cả ba buổi: sáng, chiều và tối.
Đi gần tới cửa, Tân lên tiếng:
- Anh Th́n
ơi, có khách ở Hà-nội vào chơi này. Chị Mai có nhà
không?
Một giọng tỉnh táo:
- Tân đấy hả? Mày
về hồi nào, vào đây, mời cả khách vào đây. Cô
Mai ra chuồng rồi, nghe nói đêm qua có sương
muối, lợn bị chết đấy.
Tôi theo Tân vào nhà. Trên chiếc
giường đôi, nằm sát phía ngoài, một
người đàn ông có bộ mặt xanh xao nhưng ưa
nh́n đang nằm đắp chăn đến tận vai.
Dưới gậm giường một cái
chậu sành than hồng tỏa ấm cả căn pḥng.
Mùi vỏ bưởi cháy thơm bốc
lên. Tân giới thiệu:
- Đây là anh Th́n.
Thương binh loại…
- Loại… “3 không”: không tay, không chân,
không trợ cấp thương tật.
- C̣n đây là nhà báo đi thực tế về trại
ta, lại thăm anh chị…
Mới nghe đến thế, anh thương binh Th́n
nhăn mặt mũi như vừa ngửi phải cái ǵ
hôi thối
lắm:
- Nhà báo hả? Tiên sư
cái thằng Tân này, mày dẫn nó đến đây làm ǵ? Để “thực tế” cái què, cụt tàn
phế của tao hả? Để mô tả cái con c…
tao hả? Để phịa chuyện đánh lừa các
thanh niên chết hoặc tật nguyền cho chúng nó phè
phỡn hả!!!
Cái chăn động đậy, một cánh tay khẳng khiu tḥ ra khỏi chăn, chỉ
ra phía cửa:
- Cút, cút ngay cái thằng làm
báo thối tha kia. Thằng bồi bút.
Thằng tô hồng chế độ! Thằng bôi đen
sự thật! Thằng con hoang của chế độ
Hồ chí Minh!
Tôi đứng im chịu trận mắng
như trút nước, không tự ái mà chỉ xót xa hổ
thẹn. Tân ngồi xuống mép giường,
giọng vỗ về:
- Khoan nào anh Th́n, nghe em nói
đi. Anh ấy không phải loại làm báo
cơ hội bẩn thỉu như anh vẫn kể cho em
nghe đâu. Anh ấy cũng như
người anh tinh thần của em ấy mà. Cho nên
em mới dám đưa lại thăm anh, nói chuyện cho
anh đỡ buồn.
Nét mặt nhợt nhạt, hai cánh mũi phập
phồng v́ mệt, Th́n nằm im, một lúc sau, giọng
b́nh tĩnh hơn:
- Anh ngồi đi.
Ghế là một khúc gỗ cong queo
với cái nệm là lá ngô bện đan thành các h́nh kỷ hà
học. Tôi ngồi xuống liếc nh́n căn pḥng.
Ngăn nắp và toát lên một vẻ diêm dúa trong tay một người con gái kỹ tính.
Một ống tre làm lọ hoa, chồi lên một giỏ
phong lan “hài vệ nữ”; mấy gốc sắn đă
chặt củ làm thành h́nh các con thú được quang
dầu bóng nhoáng để trên chiếc tủ con; ba
chậu hoa “pensée” làm bằng mo cau ở kế cửa
sổ; có rèm làm bằng màu giấy lấy từ họa báo
của Trung cộng, se lại như chiếc điếu
thuốc lá nhỏ và luồn giây dù để nối
lại nhau. Nh́n vào đâu cũng có dấu tích bàn tay khéo léo và con mắt thích cái đẹp
của con gái Hà-nội.
Thấy tôi quan sát tỉ mỉ, anh Th́n lên tiếng:
- Tác phẩm của cô Mai
đấy, anh thấy thế nào?
Tôi mỉm cười:
- Khéo lắm, chắc
cũng có ư kiến đóng góp của anh chứ?
Th́n cười buồn:
- Tôi ấy à. Tôi là
thằng khốn nạn, làm được cái quái ǵ khi
cụt cả hai chân và một tay. C̣n
lại một tay th́ là tay trái. C̣n
đầu óc, ngu như là ḅ đực,
anh biết không? Tôi chỉ nằm đây cho cô ấy
hầu, cho cô ấy nuôi như nuôi… lợn con, để
rồi lúc đầu óc đau buốt th́ chửi. Tôi chửi
thằng Hồ chí Minh lường gạt nhân dân, cả
Việt Nam, cả thế giới. Tôi chửi nhân dân
Việt Nam ngu dốt, thích làm nô lệ,
hết cho Tây lại cho Nga, cho Tàu, cho Hồ chí Minh. Tôi
chửi tôi ngu đă nghe lời Hồ chí
Minh nên mới ra nông nỗi này. Tôi chửi bố cô Mai ngu, không di cư vào Nam mà ở lại
để bản thân chết như con chó ghẻ, c̣n làm
khổ vợ, khổ con. Tôi chửi cô Mai ngu,
đă nghe lời Hồ chí Minh và con Cú để cơng tôi
từ trại thương binh về làm chồng, lại
c̣n làm đơn t́nh nguyện hiến hết mọi
trợ cấp thương binh của tôi để ủng
hộ miền
Nghe Th́n nói, tôi thấy ḷng sôi sục phẫn nộ:
- Anh Th́n, nghe tôi nói này. Anh
nói đúng, anh là thằng khốn nạn, là đồ ngu như ḅ. V́ thế mới có
cái hiện tại của anh. Tất nhiên không hoàn toàn
ở anh, c̣n có nguyên nhân khác nữa. Đừng nằm
đó mà làm anh hùng với cô Mai, ân nhân
của anh. Anh càng chừi, người ta càng
cho anh là thằng điên, chẳng ai thèm nghe mà cũng
chẳng ai thèm để ư đến cái thứ như anh
đâu. Anh làm khổ anh chưa đủ hay sao mà c̣n
làm khổ, sỉ nhục người con gái yếu
đuối như cô Mai.
Tân đứng dậy can:
- Đừng anh,
đừng…
Giọng Th́n tỉnh lại:
- Để
yên anh ấy chửi tao, Tân. Anh ấy nói nghe được
đấy. Anh ấy bênh vực cô Mai tuy chưa quen
biết, được đấy. Tao tin anh
ấy.
Rồi nh́n tôi, Th́n tiếp:
- Từ ngày tôi về
đây chưa đứa nào dám chửi tôi, cũng như
chưa đứa nào dám bênh cô Mai trước mặt tôi. Anh chưa mất chất người như
bọn chúng nó. Tôi nằm nhiều năm
mới có cái cách nh́n người như thế đấy.
Tự nhiên tôi thấy hụt hẫng,
thấy hối hận trước thái độ của
Th́n. Tôi lại sát giường, cầm bàn tay xương xẩu, giá lạnh của
Th́n. Chúng tôi nh́n nhau và tự nhiên có cái
đồng cảm như người cùng trong cuộc.
Đôi mắt Th́n tối sầm, những giọt
nước mắt ràn rụa. Th́n khóc thút thít như con nít.
Tôi vốn khó chịu khi nghe ai khóc, có lẽ v́ cứ hay
bị nghe vợ khóc khi hết tiền mua gạo, hết
tiền mua các thứ tem phiếu tiêu chuẩn làm quá hạn
phải hủy đi hoặc nghe con bé lớn cứ i
ỉ khóc lúc nửa đêm, lúc mà bụng đă ngót, trời
th́ nóng hầm hập, muỗi như trấu mà vẫn
phải ngồi dịch sách kiếm thêm bằng tay trái
vẫn chẳng đủ tiêu. Nó đ̣i
quạt cho mát v́ rôm xẩy đầy người. Thế mà giờ đây nh́n nước mắt
của một người đàn ông khóc v́ bất lực,
tôi thấy xúc động, thấy muốn gào thật to cho
hả. Khi cơn xúc động đă qua, cả ba
chúng tôi kẻ nằm, người ngồi đều yên
lặng như tượng gỗ. Tôi chợt
thấy một mùi khăn khẳn, h́nh như từ chỗ
nằm của Th́n. Chắc là máu mủ
từ những chỗ loét nơi thương tật.
Th́ ra vậy nên cô Mai mới bày cách đốt
cùi vỏ bưởi cho át mùi hôi đó. Tân là
người phá bầu không khí đầu tiên:
- Chị Mai làm mứt
Tết ngon lắm, anh ăn thử
mấy thứ mứt xem nhé, phải không anh Th́n?
Th́n ừ hử, chỉ tay ra
chiếc tủ con:
- Mày giúp tao lấy mứt
và có trà tươi nóng đấy mời khách hộ tao.
Mứt chanh, mứt đu đủ, mứt na, mứt gừng, mứt khoai, mứt
đậu nành, tôi nếm mỗi thứ một miếng,
không ngờ ở xó rừng này lại có đủ thứ
mứt ngon như vậy. Ly chè xanh khói lên
mờ mờ, uống chiêu mứt sao mà hợp khẩu
thế. Đúng ra căn nhà lá ngăn nắp này
phủ lên sự thể hiện của “túp lều tranh, hai
trái tim vàng”, ấy thế mà lại
chỉ là máu mủ, nước mắt, những câu
chửi ngày đêm, những thổn thức như
tiếng thạch thùng tắc lưỡi, và đêm đêm
phải nghe tiếng cú vọng vào!
Chợt một đứa bé chạy tới
đứng ở bậu cửa:
- Chú Tân
ơi, mẹ cháu bảo chú phải ra ngay chuồng lợn
giống.
Tân vội đứng dậy, th́ thầm với tôi:
- Thằng con mụ Cú
đấy, giọng ông tường không! Anh ngồi đây
nói chuyện với anh Th́n nhé, em đi một lát vậy.
C̣n lại tôi và Th́n, chúng tôi nh́n nhau.
Th́n dùng một tay c̣n lại t́m miếng
vỏ bưởi. Tôi hiểu ư vội làm hộ, vứt
miếng vỏ bưởi xuống chậu than, mùi vỏ
bưởi cháy vừa thơm, vừa
làm căn nhà ấm lại. Hai mắt Th́n lúc này dịu
lại, hiền lành như mắt gà con mới mở, Th́n
nh́n tôi:
- Em xin lỗi anh. Em điên đấy. Tại em
yêu và thương cô Mai cũng như em thương
thằng Tân và cái si t́nh của nó
với Mai. Phần lớn trong
ngày em nằm để đau đớn cho số
phận, buốt nhói từ các vết thương chẳng
bao giờ lành, cho nên em hay suy diễn. Bố
mẹ đẻ em là dân Nam-định, đều là
liệt sỹ chống Pháp. Em c̣n ông chú
và thằng em, nhưng họ đă quên em rồi v́ sợ
phải cáng đáng cái thân phận tàn tật này.
Điều họ cần họ đă có rồi, đó là
ghi em trong lư lịch của họ: thương binh loại
đặc biệt trong đánh Mỹ.
Th́n nhăn nhó cười mỉa. Tôi nâng đầu Th́n lên cho uống hớp chè
tươi. Lúc trước hẳn Th́n cũng khá
đẹp trai, mũi thẳng, môi dưới tề
tề đa cảm và hàm răng nhỏ, đều. Th́n
nh́n tôi cảm ơn và nói tiếp:
- Em, bị thương
từ 1964, ở bến phà Linh-cảm, v́ xe
ô-tô chở súng đạn vào chiến trường miền
Đôi mắt Th́n nh́n vào khoảng không như đang sống
lại trong quá khứ:
- Những ngày ở
bệnh viện mê man kề bên cái chết, em luôn nằm
mơ thấy một người con gái đẹp – em
biết là đẹp – nhưng không sao nh́n rơ mặt. Cứ
hễ lần nào em cầm tay cô ta, ở
ngón út bên phải có một cái bớt xanh nhỏ bằng
hạt đậu th́ tự nhiên cô ấy biến mất và
em tỉnh lại. Sau năm 1965, để động viên
thanh niên đi bộ đội vào Nam đánh nhau, mà cũng
là để giải phóng cho các bệnh viện, trại
thương binh tiếp nhận bệnh nhân mới từ
các chiến trường đưa ra – là sau này em mới
hiểu điều đó – và cũng để bớt gánh
nặng cả tiền lẫn người cho chính phủ,
ông Hồ chí Minh chỉ thị cho đảng và đoàn
thanh niên tổ chức cho các nữ đoàn viên thanh niên,
kể cả ngoài đoàn, ở các địa phương
hẻo lánh, t́nh nguyện lấy thương binh làm
chồng và làm đơn t́nh nguyện trả lại
mọi trợ cấp thương tật cho nhà
nước, tự ḿnh nuôi chồng. Ai
chấp nhận như vậy sẽ có một số ưu
đăi. Cuối năm 1966, không kể các nơi khác,
ở Thanh-hóa này có hơn ba chục cô ra bệnh viện
Hà-tĩnh làm đám cưới tập thể với
thương binh, trong đó có cặp Mai và em.
Th́n im lặng một lúc rồi tiếp:
- Khi nghe phổ biến
chủ trương trên, em chẳng vui cũng chẳng
buồn. Biết ḿnh thành quái vật em đă khóc nhiều
đêm và sự đau đớn quá độ làm chai lỳ,
mất hết mọi xúc động và cảm giác. Hôm
đám cưới, bên nhà gái có mụ Cú vào chọn chàng
rể, mụ đi khắp lượt và đă chọn em,
làm xong thủ tục nhận về địa
phương, mụ giắt Mai vào. Vừa thấy Mai, tự
nhiên em như thấy ḿnh sống lại, như có một
sinh khí mới ập vào lồng ngực em. Tóc của Mai
dài, đáng lẽ dùng cặp tóc th́ Mai dùng chiếc khăn tay nhỏ buộc lại. Hai con mắt to màu
hạt dẻ nh́n em rụt rè, sợ hăi. Mặt tái mét,
một lúc sau mới run giọng nói:
- Chào anh. Em là
Mai, v́ lư tưởng xă hội chủ nghĩa cao
đẹp, v́ t́nh quân dân cá nước thiêng liêng, từ nay
em là vợ của anh. Chúng ta kết đôi để
làm thành một gia đ́nh kiểu mới, trong đó vợ
chồng c̣n là t́nh đồng chí, giúp nhau tiến bộ
để thực hiện tốt đẹp sự
nghiệp vĩ đại của đảng và bác Hồ
vô vàn kính yêu của chúng ta.
Em tṛn mắt thấy những câu rất
“chính trị” ở mồm một cô gái mặt non choẹt
và ngây thơ như Mai, nhưng chợt nghe từ xung quanh,
các cô khác cũng nói đúng câu nói như vậy với các
ông chồng vừa biết mặt. Thú
thật với anh, nh́n Mai em xúc động và thấy yêu cô
ấy ngay từ lúc gặp mặt lần đầu
ấy. Yêu điên cuồng anh ạ. Giá em đủ
cả hai chân, hai tay, em sẽ chạy
lại ôm cô ấy vào ḿnh, che chở cho cô ấy. Đứng cạnh mụ Cú, Mai như nàng tiên
trong chuyện cổ tích bên cạnh ác quỷ. Và, em
chợt tự hỏi không biết nên cám ơn mụ Cú
đă mang Mai đến cho em, v́ em là thương binh tàn
tật nhất mà Mai lại là cô gái trẻ và đẹp
nhất, không thể có ai so sánh được chứ nói ǵ
với hàng trăm cô gái Thanh-hóa và Nghệ-an hôm ấy; hay
nên căm thù mụ ấy đă đẩy em vào sự thách
đố của hạnh phúc.
Th́n ngừng lại như mệt mà cũng như nén
tiếng thổn thức:
- Hôm về nhà, chính căn
nhà này anh ạ. Khi đă khuya, chỉ c̣n hai người, em
nằm ở đây và Mai ngồi ở chỗ của anh
bây giờ, nét mặt vừa hốt hoảng, vừa
chịu đựng. Em ngắm Mai, ḷng thắt lại và
chợt hỏi: “Ngón tay út bên phải của Mai có cái
bớt xanh bằng hạt đậu phải không?” Vừa
nghe thế, Mai giật thót người, nh́n em mồm há
hốc, rồi đột nhiên chạy ra ngoài. Em sững lại, đau đớn hiểu
rằng Mai nghĩ em là ma quái hiện h́nh. Rồi em phẫn nộ hắt chiếc khăn
khỏi người cho cái lạnh của tháng chạp làm
dịu lại. Thấy thế, Mai vội chạy vào,
nhặt chăn lên đắp lại cho em, giọng
nước mắt: “Em lạy anh, tha lỗi cho em,
đừng làm thế, cả hai vợ chồng ḿnh sẽ
khổ”. Rồi cô ấy úp hai bàn tay vào
mặt nức nở. Tự nhiên em tỉnh táo khác
thường, b́nh tĩnh khác thường. Em nh́n cô ấy
và… anh có thể tưởng tượng được
không, ngón tay út bên phải của Mai
đúng là có cái bớt màu xanh hằng hạt đậu. Em an ủi Mai. Cô ấy nín rất nhanh và
lấy khăn nước nóng lau mặt cho em, nước
lá bưởi thơm một cách sảng
khoái. Em chợt hiểu “hạnh phúc là ǵ?”
Em ước ao được hôn lên hai bàn tay
mà các ngón khô lại, ḷng bàn tay có những cục chai của
lao động nặng nhọc nhiều năm, nhưng
không dám. Rồi, có vẻ như một thế lực vô
h́nh nào thúc đẩy, cô ấy nhẹ nhàng lên giường
nằm cạnh em.
Nói đến đây Th́n nấc lên:
- Em khổ quá anh ạ. Có
ai ngờ một thằng như em, cao một mét bảy
mươi tư, nặng bảy mươi kư, có thể
lùa một lúc hết tám bát cơm lèn, đang học hàm thu cơ
khí năm thứ ba, được một học viên
loại xuất sắc ở lớp múa Ba-lê mê như
điếu đổ, đột nhiên trở thành quái
vật như thế này. Lúc đầu em chửi cho số
phận, nhưng rồi em hiểu ra là tại em, tội ác
của em bị quả báo anh ạ. Em, đă nghe Hồ chí
Minh, chuyên chở biết bao vũ khí vào Nam, làm chết và
tàn tật biết bao đồng bào trong đó, có thể
cũng có nhiều người như em bây giờ. Tại
sao không dùng tiền của mua vũ khí, sức lực chém
giết để xây dựng cái miền Bắc này? Tại sao phải giải phóng miền
Giờ tôi chẳng ngạc nhiên ǵ v́
biết Th́n có tŕnh độ ở bậc đại
học. Biết bao con người ưu tú như
vậy ở cả hai miền Nam-Bắc đă trở thành
nạn nhân thảm thương và măi măi của tham vọng
cá nhân tàn bạo của Hồ chí Minh, tôi tự hỏi và
thấy tái tê trong ḷng. Chợt nghĩ đến những
Jean Chesnaux, Burchett, Madelein Riffaud, Jane Fonda… chẳng biết
nên khinh v́ họ cơ hội hay nên thương v́ họ mù
ḷa trí tuệ, rồi cả cái tṛ hề ṭa án
Bertrand Russel!
Tôi vứt một miếng vỏ
bưởi và mẩu bồ kếp vào chậu than. Cho thêm vài mẩu than mới rồi đỡ cho
Th́n uống nước. Tôi hỏi:
- Ngày thường Th́n cũng nằm một ḿnh như
thế này cả ngày sao? Ăn uống,
đái ỉa như thế nào?
- Vâng, em nằm một ḿnh. Mai chuẩn bị cho em
đầy đủ và cho em ăn
trước khi đi làm. Cô ấy phải làm
gấp hai, ba người ta để nuôi em và giúp
đỡ thêm cho mẹ cô ấy và hai thằng em nhỏ.
Toàn là sáng kiến của cô ấy cả đấy:
dưới đất em có một cái rổ để tro
được che bằng cái mo cau, hễ đái, ỉa em
chỉ cần dùng tay c̣n lại kéo
dịch cái mo cau sang bên. Xong việc lại kéo
vào như cũ. Cô ấy về nấu
ăn, rửa ráy cho em. Cô ấy tận
t́nh và thực ḷng xót thương em. Nhưng em nh́n
ở mắt cô ấy th́ em biết không có t́nh yêu, cái t́nh yêu
trai gái ấy mà.
- Sao cậu biết được?
- Khổ lắm, không thể cắt nghĩa và
chứng minh được mà chỉ tự cảm
nhận được thôi. Cô ấy chỉ tận tâm
như bà phước với bệnh nhân cùi, chứ không
phải “yêu” như em yêu cô ấy.
- Thế th́ cô ấy yêu ai?
- Cô ấy không yêu ai, anh biết không, kể cả
thằng Tân dù nó yêu cô ấy từ lúc chưa có em len vào,
từ lúc cô ấy mới đến cái trại này.
- Thế sao cậu lại chửi và sỉ nhục cô
ấy?
Th́n khóc thút thít:
- Tại em yêu cô ấy. Em muốn cô ấy bỏ em, chán em đi rồi
đi lấy thằng Tân. Chỉ có vậy cô ấy
mới ngóc đầu lên được, mới có hạnh
phúc anh ạ. Em muốn hy sinh để trả cái ơn cô
ấy đă lấy em, đă săn sóc, thương xót em
thật sự. Nhưng… đồng thời
em lại sợ mất cô ấy. Anh có thấy cái
hố bên kia nương sắn không? Dấu vết bom lạc của Mỹ
đấy. Lần ấy cô ấy đă ôm em lăn xuống hào, dùng cả người che
chở cho em. Đó là lần đầu em
sợ chết, bởi v́, lần đầu em ngửi
thấy da thịt của cô ấy, thấy cái nóng của
sức sống của cô ấy bọc lấy cơ
thể em. C̣n ngày thường, chúng em nằm cùng
giường, nhưng em để cái quạt nan ở
giữa hai người, như lưỡi gươm
của Tiểu Nhiên khi phải nằm cùng Mỵ Cơ. Anh
có biết chuyện đó không.
- Có, đó là tên dịch
từ câu chuyện t́nh bất hủ giữa Tristan và Yseult.
Cậu đọc sách nhiều nhỉ?
- Trước kia anh ạ, C̣n bây
giờ em thích nghĩ nhiều hơn, và thích sống
tưởng tượng. Em luôn thấy ḿnh đủ cả
chân tay, em lái xe chở cả Mai, mẹ cô ấy và hai
thằng em rồi vào giới tuyến để
vượt vào Nam, đi thật xa cái nơi này, chỉ
như thế mới có hạnh phúc. Chúng em
sẽ lập nghiệp ở Đà-lạt. Anh thấy có được không? ở đó khí hậu tốt cho phụ
nữ. Đẹp như Mai lại càng
đẹp ra. Em dự định chỉ ba
đứa con thôi, hai đứa đầu là trai, c̣n
đứa con út phải là gái. Về già, em và Mai sẽ
sống với con gái, chàng rể. Con gái hiếu với cha
mẹ hơn, c̣n đàn ông th́ xề x̣a ít để ư
như con dâu. Chẳng cần giàu có xa hoa, chỉ cần
đủ ăn thôi. Bọn em làm
nghề trồng hoa, làm đẹp cho đời mà. Anh đọc “Gánh hàng hoa” chưa?
Tôi gật đầu không ngăn
được nước mắt, phải vờ đi ra
ngoài, sợ Th́n trông thấy. Mọi người
chẳng ao ước cao sang, người ta chỉ
muốn sống yên b́nh. Nhưng, buồn thay lũ ma quái như
Hồ chí Minh lại chỉ muốn ngai vàng, muốn đi
vào lịch sử, muốn làm “bác”, làm “cha già” của cả
dân tộc Việt Nam. Có ai thống kê được bao
nhiêu hạnh phúc bị Hồ chí Minh làm tan nát, bao nhiêu
cuộc t́nh chôn vùi trong máu và nước mắt? Tôi không
muốn một Việt
Tân trở lại và mời tôi lên văn
pḥng đảng ủy. Tôi vào chào Th́n.
Nắm tay tôi, Th́n lưu luyến:
- Thế nào anh cũng
phải quay lại với em, cả thằng Tân nữa,
để ăn một bữa cơm Tết.
Tôi hứa hễ rảnh tư chút sẽ
trở lại nói “tâm sự” với Th́n.
Tuy nhà ngói một tầng, nhưng văn
pḥng đảng ủy trông đẹp. Rơ ràng đây là
bộ mặt để tiếp khách đến “tham quan”
trại. Mụ Cú ra tận cửa đón tôi.
Ngồi chưa yên chỗ th́ thấy một người
đàn bà đứng tuổi – trạc mụ Cú – bê cái khay
có hai đĩa sôi nếp thơm
phức hành phi mỡ và một đĩa thịt kho tàu. À
th́ ra ăn sáng. Đưa sôi và tiếp thịt cho tôi,
mụ Cú miệng nói:
- Mời đồng chí
dùng sáng, cây nhà lá vườn. Nếp là tăng gia tự túc
của trại, thịt lợn của trại luôn.
Tôi nói đùa:
- C̣n củi, lửa và
nước?
- Dạ, tất cả là của đảng, của
bác ạ.
Rồi mụ thành kính ngước lên trần nhà, tôi
nh́n theo. Th́ ra, bàn thờ
“tổ quốc” trên cao chót vót, hương nến nghi ngút,
cùng đĩa sôi trắng và đĩa thịt kho tàu; cùng
hoa tươi cắm lọ. Tôi cũng chẳng
lạ lắm, v́ đây là “lệ mới” bất thành
văn, ở đâu cũng thế, cho dù chưa chắc
họ đă tin yêu ǵ Hồ. Hệt như mấy anh sư hổ
mang, thầy chùa “quốc doanh”, nhang khói trên bàn thờ
Phật nhưng chúng vẫn làm chuyện bậy bạ ngay
trong điện thờ. Trung ương đảng đang
xây lăng cho Hồ kia mà.
Mụ quay bảo Tân và người đàn bà kia:
- Thằng Tân qua bên anh
Phó giám đốc Tân bỏ đi.
Về sau, tôi được biết Lài là thư
kư công đoàn. Đó là thực tế “đảng lănh
đạo toàn diện” đấy! Kiểu
“lănh đạo” của chủ với đày tớ.
Tôi nhớ lại những lần họp “quốc hội”
mới, Hồ chí Minh cười hề hề với các
đại biểu:
- Bác giới thiệu chú
Đồng làm thủ tướng, các cô, các chú đồng
ư th́ cho tràng pháo tay.
Tất nhiên, cả hội trường đứng
dậy thi đua vỗ tay xem của ai kêu to hơn, trong cái
không khí đó, tiếng của chủ tịch Hà-nội
Trần duy Hưng, gào như muốn bể phổi: “Hồ
chủ tịch muôn năm!”, y hệt
“Heil Hitler!”.
Ăn sáng xong, mụ Cú đích thân đưa tôi đi
tham quan trại, cho đến bữa cơm trưa,
rồi lại đi cho đến bữa cơm chiều.
Hai bữa ăn vẫn là món ăn do bàn
tay Hà-nội nấu. Tôi no mà vẫn cứ
muốn ăn, để được có thêm cái hơi
“Hà-nội”.
Tối đến, Tân đi họp.
Tôi vội sang bên nhà Th́n, thực ḷng vừa thăm Th́n
nhưng có lẽ lư do chính yếu là muốn biết mặt
Hoàng Mai.
Tôi đẩy cửa vào, chỉ có
tiếng ngáy của Th́n. Chẳng có ai.
Con mèo tam thể ở đâu chạy lại, cong đuôi
dụi đầu vào chân tôi, ṛ ṛ vẻ hài ḷng. Có tiếng động phía sau, tôi quay lại.
Tôi biết ngay đó là Hoàng Mai. Chiếc khăn màu cỏ úa buộc trên
đầu vẫn để lọt những sợi tóc mai
mượt mà, làm nổi bật khuôn mặt bầu
bầu, trắng hồng, lại càng hồng thêm có thể
v́ cái lạnh của tháng chạp mà cũng có thể v́
thẹn. Môi đẹp như tranh tố
nữ của bạn tôi, họa sỹ Trần đông
Lương – vua tranh lụa. Cái áo cánh màu
vỏ sim kín cổ làm cho cổ thêm cao và trắng. Tôi
chợt tự hỏi: “Phải chăng đây là giáng
kiều, của Tú Uyên, xuống trần lại”.
Mai khẽ chào:
- Em chào anh. Mời anh ngồi ạ.
Giọng nói vừa cất lên, tôi đă
như thấy trước mắt cái ngày giáp Tết
Đinh Mùi. Sông Hồng hôm đó trắng
nơn sương mù, không có bến, có bờ, có đầu, có
cuối.
Mai pha trà, lấy mứt, và ngồi
vào mép giường của Th́n. Đôi tay
nhẹ nhàng kéo lại chăn và khẽ sờ lên trán Th́n.
- Cả trưa, chiều nay anh ấy gào khóc. Y tá
phải tiêm thuốc và cho anh ấy uống thuốc
ngủ ạ. Em đang bận dọn dẹp không biết
anh tới chơi, thất lễ quá.
Nghe Mai nói, tôi thấy thú vị v́ nghĩ chính sách
của Hồ chí Minh không thể “cải tạo”
được cái chất Hà-nội, đó là truyền
thống mà.
Tôi nh́n Mai:
- Chúng ta đă cùng đi
một chuyến tàu thủy dịp gần Tết năm
1967, có đúng không cô Mai?
Mai gật đầu, rồi để giấu vẻ
lung túng, chế thêm trà cho tôi:
- Hôm tôi tới đây
chắc cô nhận ra phải không? C̣n tôi
chỉ nhận ra cô ở giọng nói.
Im một lúc, Mai nói:
- Dạo ấy hai chúng em
vừa cưới xong. Anh Th́n em không thể đi
được, nên em về quê anh ấy lễ mộ ba,
mẹ chồng em, nhưng… nhưng… bị đưa đi
đâu hết cả rồi anh ạ. Nghĩa trang bị
phá bỏ làm công trường. Em đành
đứng ở đó mà khẩn vọng vậy.
Rồi ngập ngừng, Mai tiếp:
- Trước lúc anh
xuống, hành khách biết cả v́ ở trên tàu
người ta phổ biến là có nhà báo đi thực
tế, mọi người cố giữ ǵn rồi sau th́
lại cứ việc thoải mái.
- Thế sao cô nhận ra
tôi?
- Cái anh thuyền viên râu quai nón ấy báo động cho
khách rồi bấm đèn pin nên mọi người
biết mặt anh hết.
Tôi ph́ cười:
- Đâu
cũng thế cô Mai ạ. Họ toàn bịp bợm, như
trại này chẳng hạn, thế này mà cũng
điển h́nh và xuất sắc.
Mai sợ hăi:
- Đừng
anh ạ. Tai vách mạch rừng, có thế nào th́ chỉ
khổ em.
Tôi xin lỗi rồi dần dần lái vào
chuyện của Mai. Có điều lạ là Mai có
vẻ tin tôi ngay:
- … Vâng, em
biết anh Th́n đau khổ, nhưng em chẳng biết
phải như thế nào. Em dần dần thương anh ấy
thực ḷng, và thấy anh ấy chửi em cũng đúng.
Bà Cú bảo em muốn thay đổi thành phần th́
phải “đầu hàng giai cấp công nhân cả hành
động và tư tưởng”, phải v́ sự
nghiệp của “đảng và bác Hồ” mà phấn
đấu không do dự. “Đảng và bác
Hồ” muốn em đền ơn đáp nghĩa những
người đă cống hiến xương máu cho sự
nghiệp của “đảng và bác”. Và, em vâng lời,
hoàn toàn tự nguyện.
Tôi bực ḿnh:
- Có thật “tự
nguyện” không? Và, tôi kể câu chuyện vui
của Bernard Shaw về tự nguyện và biện pháp.
Mai tṛn mắt nghe tôi kể. Tội nghiệp, trong Mai háo hức
được học hành hiểu biết.
Tôi thấy một sự đồng
cảm giữa chúng tôi, những người Hà-nội
với nhau. Mai do dự, rồi nhắc lại
thời thơ ấu trước 1954. Cả
hai, Bạch Mai và Hoàng Mai đều học ở Rosaire,
trường của các Mẹ áo trắng. Tôi nói cho Mai biết, nay trường đó – ở
phố Hàng Chuối, Hà-nội – bị lấy làm văn
pḥng bộ tài chính. Rồi Mai lại kể là hai
chị em cũng có ư nghĩ sau này sẽ đi tu như các
Mẹ – mặc dù gia đ́nh Mai theo đạo Phật. Mai
hào hứng kể về Mẹ bề trên, đẹp,
hiền dịu và thông thái, h́nh như thuộc gia đ́nh quư
tộc ở Pháp. Và, Mai thích thú:
- Từ đó cho
đến nay, lúc nào em cũng cầu Trời, Phật phù
hộ cho gia đ́nh em, bây giờ th́ thêm cả anh Th́n.
Rồi em lại cầu xin đức Mẹ Maria cho gia
đ́nh em sự an lành. Em
vẫn kín đáo đọc kinh, nhất là khi đi thăm
mộ ba em và chị Bạch Mai em. Xưa
đi học bao giờ em cũng được
điểm cao về catéchisme.
Khi lái sang chuyện của Tân, tôi khéo thăm ḍ quan
hệ của Mai – Tân ra sao, Mai nói:
- Em rất kính trọng anh
Tân, nhưng chưa bao giờ em yêu anh ấy. Em
nghĩ bọn em không thể hợp nhau.
- Thế c̣n Th́n?
- Chúng em là vợ chồng mà, và sẽ gắn bó với
nhau trong tay Chúa.
Tôi thán phục:
- Mai sống rất
nghị lực bởi Mai có đức tin
Mai nh́n tôi:
- Anh có đức tin không?
Tôi gật đầu. Mai thoáng
ửng hồng đôi má:
- Ngay lần đầu
nh́n thấy anh, hôm đó là ngày cúng ông Táo về Trời, em
nghĩ ngay anh là người tốt, kính trọng anh và em
linh cảm sẽ có ngày gặp lại anh. Em kể cho
chị Bạch Mai nghe, chị ấy đang ở trên kia, trong nước Chúa. Em luôn
tâm sự với chị ấy.
Tôi cảm thấy một nỗi buồn
man mác, tái tê.
Không tiện ngồi lâu v́ Th́n ngủ, tôi
ra về nằm chờ Tân rồi ngủ lúc nào không
biết. Tôi mơ thấy đi trong mây
trắng nơn nà. Tôi thấy ḿnh bay bay.
Khi tỉnh giậy, tôi sờ lên cổ, c̣n
thấy cây thánh giá làm bằng tre, đă lên nước,
nhỏ tư xíu, có sợi giây dù để đeo. Đúng
là sự thật như đêm qua tôi đă nghe Mai nói:
- Từ nay, đêm đêm
em sẽ cầu xin Đức Mẹ ban ơn lành cho anh…
đó là… phần cầu xin cho t́nh bằng hữu. Em
biếu anh cây thánh giá này, của em đấy, em sẽ
đeo cây của chị Bạch Mai em để lại,
nhưng phải lúc đêm khuya, c̣n sáng ra phải đem
giấu thật kín. C̣n đang bang khuâng với mộng và
thực th́ tôi thấy mụ Cú tới và một
người đàn ông lạ mặt. Mụ ta nghiêm
chỉnh:
- Báo cáo đồng chí nhà
báo, có điện từ Hà-nội vào, đồng chí
phải ra ngay với đoàn xe vận tải số 2 ngoài
Nghệ-an. Đây là đồng chí ở đoàn 2, từ
Hà-nội vào đón đồng chí.
Tôi sững người và càng buồn khi
biết Mai phải vào rừng, c̣n Tân ra tỉnh về
chuyện chiếc ô-tô con. Tôi chạy sang chào Th́n. Bàn tay xương xẩu của Th́n nắm
chặt tay tôi:
- Anh ráng cẩn thận, đừng ngu như em.
Tôi gật đầu vội quay đi
giấu sự xúc động.
Tôi và xe đạp “nằm” ở
thùng chiếc xe tải. Đường xóc như rang cà-phê.
Từ đó chẳng bao giờ tôi có
dịp gặp lại Mai, Th́n và Tân. Nhiều lần
cầm bút viết thư rồi lại
xé đi.
Cho đến nay, hơn hai chục mùa
xuân qua đi, chẳng biết những người đó
c̣n sống hay chết. Nếu c̣n
sống nhất định Mai vẫn cầu xin Mẹ
Maria cho tôi trong phần bằng hữu cũng như tôi
cầu xin cho Mai và gia đ́nh và dân tộc Việt
Tháng 12/1992
Chú thích:
* Nhà báo Trọng Kính từng viết cho các báo ở
Hà-nội trước năm 1975. Ông cũng là
Việt Thường ở hải ngoại và là tác giả
ba quyển “Chuyện thâm cung dưới triều
đại HCM; Con yêu râu xanh ở Việt nam; Những tên
đặc công đỏ trong phong trào đ̣i hỏi dân
chủ cho Việt
1) Xe đạp của Pháp, nhăn hiệu Peugeot.
2) Seiko:
đồng hồ của Nhật.
3) Bà bô: mẹ
đẻ.
4) Ư nói bố
sắp chết. Văn-điển là nghĩa
địa.
5) Ư nói có cấp trên
nâng đỡ, bao che.
6) Cửa hàng cung
cấp riêng cho loại cán bộ trung cao.
7) Khẩu
hiệu thời chiến tranh với Mỹ ở phía
Bắc.
8) Tức
người nấu bếp.