Ghi nhớ về lễ noel
hà-nội
Việt Thường
ĐOÀN TỤ...
NĂM 1954.
Hà-nội vẫn có cái lạnh thật dễ
thương của tháng cuối trong năm, không hề có
chút ǵ giống nỗi cô đơn của Déméthée v́ phải
xa cô con Proserpine đă bị thần Pluton nứt mặt
đất bắt xuống âm ty làm vợ. Nhà nhà đều
chuẩn bị đón mừng lễ Giáng-sinh, kể cả
những gia đ́nh không phải công giáo. Mặc dù dân
Hà-nội tránh nạn cộng sản di cư vào
Cuối phố Ḷ Đúc, gần ngay nhà
thương chó - nay là cơ quan của bộ Lâm nghiệp
- ai ai cũng mừng cho cụ phán Thành, chủ căn nhà
lầu mới nhất, khỏi phải sống lẻ loi
v́ đă có con trai là cán bộ cùng vợ con mới từ
Việt Bắc về đoàn tụ. Cho nên Nô-en 1954 của
nhà cụ phán Thành được chuẩn bị khang trang
hơn mọi năm. Cây Nô-en của nhà cụ to đẹp
nhất khu vực đó. Gần chín năm trời, cụ
phán Thành đă dành nhiều th́ giờ ngắm các
tượng Thánh cũng như cầu xin Đức Mẹ
cho ngày đoàn tụ này. Con trai một của cụ là cán
bộ hàm vụ trưởng, công tác ở văn pḥng
phủ thủ tướng; con dâu của cụ, xuất
thân là rễ cốt cán trong cải cách ruộng đất
thí điểm ở Thái Nguyên, nay là cán bộ tổ
chức của Tổng công đoàn và đứa cháu nội
của cụ vừa tṛn sáu tháng. Con, dâu và cháu của
cụ về Hà-nội đă vài tháng nay, nhưng vẫn
ở tại cơ quan. Chỉ có con trai cụ về nhà hai
lần thăm cụ, uống vội một chén trà chứ
không chịu ăn uống ǵ và hấp ta hấp tấp
bỏ đi cứ như là nhà có ma. Mâm cơm được
dọn ra, anh ta liếc nh́n đĩa thịt gà, cái yết
hầu động đậy, nét mặt căng thẳng
nhưng vẫn không đủ can đảm ngồi
lại ăn với bố bữa cơm sau chín năm xa
cách! Rồi, một buổi tối, anh ta về nhà, cũng
vội vă uống chén trà để báo cho cụ phán Thành
biết vài ngày nữa anh ta sẽ đem vợ con về
ở ngôi nhà này v́ đă được phép của
"đảng ủy" cơ quan. Xa nhau chín năm,
người con trai cụ phán Thành thay đổi quá
nhiều, cả từ vẻ mặt, ánh mắt,
người ngợm cho đến ngôn ngữ ăn nói. Hai
cha con ngồi chỉ cách nhau một cái bàn mà sao c̣n thấy xa
hơn Hà-Nội lên Việt-Bắc!
... ĐỂ CHIA LY HƠN
Cụ phán Thành và mấy bà con giáo dân hàng xóm của cụ
sang xem cây Nô-en không c̣n tin ở lỗ tai của ḿnh khi nghe
anh cán bộ - con trai của cụ - chỉ vào cây Nô-en và nói
vẻ khó chịu:
- Thầy rước cái
"của nợ" này về làm ǵ cho tốn tiền
lại rác nhà.
Dân công giáo toàn ṭng, được mặc chiếc áo
đại cán màu lá mạ, vai đeo xắc-cốt vải
bạt, ăn nói như vậy đấy. Lặng
người một lúc cụ phán mới nói
được:
- Anh có c̣n là con chiên của Chúa không mà nói vậy?
- Thầy, u có công đẻ ra con, nhưng Đảng và Bác
cho con sự sống, cho con lư tưởng. Giờ đây
con là thuộc về Đảng và Bác, xin thầy và bà con
lối xóm nhớ cho như vậy.
Cụ phán Thành ú ớ:
- Vậy là anh không... không...
- Vâng, con là người cách mạng, không tin ở tôn giáo nào
cả, đó là thuốc phiện như Marx đă nói và...
Anh con nh́n bố, vẻ ái ngại:
- Thầy có được nghe
chính Chúa nói không?
Cụ phán nh́n con, vẻ xa lạ:
- Vậy anh có được nghe chính Marx nói không?
Anh đỏ mặt, lúng túng chưa biết trả lời
ra sao th́ cụ phán Thành nói tiếp:
- Anh có nhận tôi là cha
đẻ của anh nữa không th́ tùy, nhưng chúng ta không
cần báng bổ đức tin của nhau. Tôi là con chiên
ngoan đạo, sống trong sự che chở của Chúa.
Anh là người cách mạng, anh tin vào cụ Karl Marx,
đó là việc của anh. Anh gọi đó là chủ
nghĩa hay tôn giáo, tất cả đều là cách diễn
đạt mà thôi.
Những người được chứng kiến
cuộc đối thoại của hai cha con cụ phán Thành
không thể nào quên được vẻ đau khổ
của người cha và vẻ căm thù lạnh lùng
của người con. Câu chuyện hôm ấy đă
chấm dứt t́nh nghĩa cha con. Căn nhà được
bít lại: cụ phán Thành ở trên lầu và gia đ́nh
người con ở tầng trệt. Đến năm
1960, cụ phán Thành bị cải tạo trong diện tư
sản nhà đất, cụ phải dọn ra căn pḥng
phía sau, trên nóc nhà bếp, kế sân thượng phơi
quần áo, rộng độ gần hai chục mét vuông.
Đấy là một sự chiếu cố của ban
cải tạo, v́ đúng ra tiêu chuẩn đầu
người chỉ là năm mét vuông. Mà, cũng có thể
không t́m ra căn pḥng nào có cái diện tích năm mét vuông
như vậy, ngoại trừ cái cầu tiêu phụ!
Căn nhà lầu của cụ phán Thành, chắt chiu cả
đời người cạo giấy ở sở
Phi-năng (tài chánh) của Pháp và sự buôn bán tảo
tần của vợ mới làm nên được, nay có
chủ mới là Sở quản lư nhà đất Hà-nội.
Căn nhà đó được chia cho con cụ phán Thành
ở v́ là cán bộ trung cao của đảng, tiền nhà
do cơ quan đài thọ. Vài năm sau, cụ phán Thành
chết cũng chỉ được bà con trong họ
đạo lo chôn cất. Người con trai chỉ
đến viếng như một... người hàng xóm b́nh
thường. Thời gian cứ thong thả đi qua. Nô-en
nối tiếp Nô-en, chẳng biết c̣n được bao
người nhớ đến câu chuyện trên, một
thời là chuyện cửa miệng của người dân
Hà-nội (không phải dân ngụ cư)?
Chuyện tưởng như có tính riêng biệt, ai ngờ
đấy chính là "mâu thuẫn mới", của xă
hội Bắc Việt Nam, được h́nh thành từ
ngày ông Hồ chí Minh về trú ngụ tại phủ toàn
quyền Đông Dương, cho đến ngày phải theo
qui luật "có sinh có tử", ông vẫn luyến
tiếc cái phủ toàn quyền ấy, v́ nó tượng
trưng cho uy quyền cá nhân của kẻ ngự tọa
trong đó lên đầu nhân dân của ba nước
Việt, Lào và Cam-bốt, cho nên lăng của ông
được xây liền ngay cạnh phủ toàn quyền
cũ, h́nh thành một "quần thể" kiến trúc
biểu tượng quyền uy tối thượng cả
khi sống cho đến lúc chết.
TỪ ĐẤU TỐ... ĐẾN VU CÁO
Bốn cuộc cách mạng: cải cách ruộng
đất; văn hóa và tư tưởng; cải tạo
công thương nghiệp tư bản tư doanh và
chấn chỉnh tổ chức do ông Hồ chí Minh và
đảng của ông ta phát động và thực hiện,
đă làm đảo lộn mọi nền tảng
đạo đức xă hội, mọi giá trị văn
hóa tư tưởng, mọi sản phẩm của thành
quả lao động, mọi khái niệm... mà loài
người đă phải trả những giá rất
đắt trong quá tŕnh lịch sử mới có
được, mới định h́nh được.
Hà-nội là nơi tập trung của nhiều tôn giáo,
nhưng chẳng biết từ thuở nào, ngày Nô-en đă
trở thành ngày hi vọng của tất cả mọi
người, của tất cả mọi nhà. Không ít gia
đ́nh Phật -giáo cũng có cây Nô-en trong nhà và dù không là giáo
dân, nam nữ thanh niên Hà-nội vẫn dự lễ đêm
Chúa Giáng-sinh với đầy tôn kính.
Chẳng biết dưới triều Tự Đức,
giáo dân bị giết ra sao, nhưng đến "thời
đại Hồ chí Minh" th́ giáo dân (ở Bắc
Việt Nam) là đối tượng nặng nề
nhất và lâu dài nhất chịu đựng mọi thủ
đoạn tàn bạo của ông Hồ chí Minh và
đảng của ông ta.
Trong âm mưu chống di cư vào
"Đồng Sỹ Nguyên, Đồng Sỹ Nguyên!
Theo Hồ ngươi giết con chiên Ba Làng.
Tội ác ngươi nhất thế gian
Trẻ thơ cũng bắn, già làng cũng
đâm
Cỏ cây cũng phải khóc thầm
Núi sông cũng phải một lần phong ba
Đảng ngươi, đảng lũ Tàu, Nga
Cộng ngươi, cộng máu, cộng ḥa
thịt xương
Cách ngươi, một lũ bất lương
Cùng quân ăn cướp, cùng phường lưu
manh
Đảng ngươi tội ác rành rành
Chứng nhân c̣n đó, sử xanh, Đất,
Trời
Lũ ngươi đền tội đời
đời!"
Tổ quốc tế (thành phần là Ấn độ) có
vào Ba Làng thu thập tài liệu, nhưng Khu ủy cộng
sản Khu Bốn, cơ quan an ninh và trung tá Nguyễn văn
Đổng có "sáng kiến" dựng ra một toán
cướp tấn công mấy chiếc xe ô-tô mang cờ
trắng có chữ IC của tổ quốc tế,
"trấn lột" hết mọi thứ - tất
nhiên là đơn từ khiếu nại và mọi h́nh
ảnh tang chứng về vụ tàn sát giáo dân của chính
quyền Hồ chí Minh - và c̣n cho các nhân viên quốc tế
này "ăn no" trận đ̣n hội chợ. Như
t́nh tiết trong một phim ảnh, ở phút gay go nhất
th́ "công an" và "bộ đội cách mạng"
tới kịp thời giải cứu cho tổ quốc
tế "thoát chết". Tất cả được
sự săn sóc của các cô y tá trẻ, tay mát rười
rượi và quà lưu niệm của ủy ban tỉnh và
các đoàn thể "vừa hậu hĩnh, vừa giá
trị", cho nên tổ quốc tế hỉ hả ra
về "cứ như là vừa đi du lịch vào
miền Trung, quê của Bác Hồ" cho biết xứ
của cách mạng.
Chuyện chưa dừng ở đó. Cơ quan an ninh
của ông Hồ chí Minh quyết "đẩy"
bằng được một đức cha người
Canada tên là Denis Parkett, tên Việt là Cha Quư, ở nhà thờ
Nam Đồng, bởi lúc đó trong ủy ban quốc
tế giám sát đ́nh chiến ở Việt Nam, phái đoàn
Canada giữ ghế chủ tịch. Ngón nghề của
họ vẫn là bổn cũ soạn lại: vu cáo, tố
bậy. Vở kịch do biên kịch và đạo diễn
đều là người của cơ quan an ninh thuộc
pḥng quản lư tôn giáo.
NHỮNG NGƯỜI MỘ ĐẠO
Từ mùa hè 1957, chiều chiều thường có một
cặp vợ chồng độ tuổi trung niên đi xe
đạp qua ngă Hàng Bột xuống nhà thờ Nam
Đồng. Người chồng da mặt đen, cặp
lông mày sâu dóm, một hàng râu cứng và rậm trên cặp môi
thâm x́ và thêm hai con mắt trắng dă có vằn tia máu. Vợ
nói tiếng Bắc, hai g̣ má cao, cặp mắt ướt và
mệt mỏi, đầu búi tóc, dáng người sang
trọng. Hai người đi bên nhau thật chẳng
xứng đôi chút nào.
Đây là hai người đang muốn cải đạo.
Họ xuống nhà thờ
Không biết năm người này khai với cha Quư ra sao
về tên tuổi, nghề nghiệp và địa chỉ.
Nhưng, nếu ai ṭ ṃ th́ thấy người đàn ông
mắt trắng dă đó tên là Ba, c̣n vợ là Lê thị Nhung,
làm việc ở văn pḥng công an Khu Hai Bà (nay là Quận Hai
Bà).
Những người "mộ đạo" đó
tiếp tục học kinh bổn cho đến tận
giữa năm 1958 mới thôi. Bởi v́, nếu ai hay
để ư tin trên báo sẽ thấy ở trang hai, báo
Thời Mới, chỗ "kín đáo" nhất có một
tin ngắn nói về việc chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng ḥa ra lệnh trục xuất "ông Denis
Parkett, quốc tịch Canada, có tên Việt là Quư, hành
nghề tôn giáo, bị "giáo dân" cáo giác là tuyên
truyền phản cách mạng và có biểu hiện hoạt
động gián điệp."
C̣n năm người "mộ đạo" th́ sao?
Thưa rằng, vợ chồng bà Nhung trở thành xă viên
hợp tác xă đánh máy và in rô-nê-ô Hai Bà Trưng, chịu
sự lănh đạo hai chiều của pḥng văn hóa thông
tin Khu Hai Bà và P.21 thuộc Sở công an Hà-nội,
đời sống khấm khá. Cô Th. lấy chồng là
thiếu tá công an, trưởng pḥng quản trị hành chính
thuộc Cục Lao Cải (sau đổi tên là Cục
quản lư trại giam), dưới quyền thiếu
tướng Lê hữu Qua - người chỉ huy công tác
bảo vệ phái đoàn Phạm Văn Đồng dự
hội nghị Genève 1954 về Việt Nam. Cô em tên là S., đầu
năm 1959 được đặc cách cho cùng con gái sang
Pháp đoàn tụ với chồng. C̣n cô O., lấy chồng
là một giáo viên. Tất cả chẳng ai rửa tội
theo đạo cả. Chẳng cần suy diễn, chúng ta
cũng có thể hiểu họ đă đóng vai ǵ trong
vở kịch của me-sừ Dương Thông đạo
diễn.
VẾT DẦU LOANG
Nếu trên mặt báo, tin trục xuất Cha Denis Parkett
được xếp ở chỗ "kín đáo" bao
nhiêu th́ ngoài đời tin ấy lan nhanh trong người
dân Hà-nội. "Người ta" kháo nhau là có hoạt
động "gián điệp và phản động"
trong sinh hoạt tôn giáo. Rồi cũng lại
"người ta" x́ xầm rằng tạm thời
nên tránh đến các nhà thờ, "Chúa ở trong ḷng
mỗi chúng ta", cứ ở nhà mà cầu kinh cũng
được, lúc này biết ai là "giáo ngay" ai là
"giáo gian". Ở trường học, tự nhiên các
em học sinh cũng bắt đầu nh́n những bạn
ḿnh là công giáo bằng "con mắt cảnh giác cách
mạng", ở khu phố người ta cũng hay nḥm
ngó gia đ́nh giáo dân hơn. Các xứ đạo, các nhà
thờ thường xuyên có những bộ mặt lạ
lăng văng đến nhẵn mặt dân trong khu vực,
chẳng ai nói với ai nhưng ai cũng biết là
"công an mật" đang "làm nhiệm vụ"
(?). Cơ quan an ninh của ông Hồ chí Minh cho âm binh đi
diễu ngày đêm như vậy cùng với những tin
đồn "giật gân" nào là ở nhà thờ X.
vừa thấy cờ tam tài, ở nhà thờ Y. th́ bắt
được lựu đạn v.v... và "kẻ
gian" thường lợi dụng những buổi
lễ ở nhà thờ để họp mặt với nhau
v.v... Và, cũng thời gian ấy, không khí "đấu
tranh giai cấp" trong cải cách ruộng đất, trong
chống bè lũ Nhân Văn - Giai Phẩm... càng làm mọi
người hoang mang, đến nỗi ai nh́n vào nhau
cũng thấy "địch", cũng lo "cảnh
giác" kẻo bị địch "lợi dụng".
Rồi cứ thế, mọi người biến thành
"con rùa" lúc nào cũng rụt cổ vào mai cho
"chắc ăn". Nhà thờ vắng tanh trong các
buổi lễ. Cổng nhà thờ nào cũng có ảnh
"bác Hồ" chiếu tướng người qua
lại. Ai muốn vào nhà thờ, chợt khựng lại
khi thấy ảnh "bác" v́ tự nhiên bài học
"cảnh giác" phọt ra.
Nhiều năm liền, ngày Nô-en chẳng khác ngày
thường. Nhà thờ tuy được mở cửa,
nhưng chỉ có trẻ em và các cụ "thật già"
ở tuổi gần đất xa trời. Cả
Hà-nội chỉ có Nhà Thờ Lớn ở phố Nhà Chung
(Nhà Thờ) được chính thức làm lễ Giáng Sinh.
Ngay từ chiều ngày lễ, công an nổi, công an ch́m
lượn lờ suốt quanh đó và quanh Hồ
Gươm. Nam nữ thanh niên Hà-nội, không là công giáo,
hầu như chẳng một ai qua lại khu vực nào có
Nhà Thờ tọa lạc, sợ bị ghi sổ đen,
sợ bị chụp ảnh lưu trong hồ sơ
của Cục 78 bộ công an. Khá nhiều thanh niên công giáo
cũng bỏ lễ sợ bị qui chụp là "mê tín,
lạc hậu" và có hại cho con đường
học hành, công tác sau này. Có điều hài hước là
trên các mặt báo ngày hôm sau, ở trang nhất đều có
ảnh lễ Nô-en tại Nhà Thờ Lớn với sự
hiện diện của đại diện chính phủ.
Nếu chỉ đọc báo, ai chẳng nghĩ rằng
vấn đề "tự do tín ngưỡng" dưới
chế độ Hồ chí Minh được tôn trọng
triệt để. Thật là chỉ có nằm trong chăn
mới biết chăn có rận. Và, những đ̣n phép
"khủng bố công giáo" cứ như vết
dầu loang vừa bao trùm rộng về diện vừa
nhẹ nhàng về phương pháp hành động đă có
nhiều kết quả.
MÁU TƯỚI VÙNG CAO
OÂng Hồ chí Minh và đảng của ông ta chưa bao
giờ chính thức đề ra chính sách "tiêu diệt
công giáo" ở Việt
"Đứng trên Cổng Trời nh́n về Quản
Bạ
Tưởng ḿnh cưỡi gió ngắm trần
gian"
Đẹp thay đất nước bạc vàng
Đứng đây sao thấy vô vàn thân
thương
Sa-mu san sát bên đường
Cảnh sao hùng vĩ, ngựa giương bờm
dài
Đải lầu, ṿng bạc, hoa cài
Bản Mèo đứng đó nh́n ai mà buồn
Phải chăng bản nhớ người
thương?
Hà Giang, Mèo Vạc máu xương đỏ ngầu
Hồ cộng cùng với Mao Tàu
Giết hơn một vạn kể đâu giống ṇi
Mẹ hiền Tổ-quốc đâu rồi?
Dù là thiểu số cũng người Việt
Nam
Cũng máu đỏ, cũng da vàng
Búa liềm Hồ cáo bản làng tang thương
Sông Nho Quế máu c̣n vương
Người Kinh, người Thượng
khắc xương ghi ḷng
Đoàn kết chống cộng đến cùng
Tội ác Hồ cáo, Lạc Hồng chớ quên!
Ban tuyên huấn trung ương của Tố Hữøu và
cơ quan an ninh của Dương Thông điên cuồng.
Chẳng cần úp mở nữa, nếu người Mèo
ở Hà Giang theo Tin Lành th́ nhà thờ Tin Lành sẽ là mục
tiêu "phỉ báng". Và, thế là Nhà thờ Tin Lành ngay
cạnh câu lạc bộ Đoàn Kết, gần nhà Hát
Lớn, được lấy làm "trụ sở"
cho hợp tác xă Thêu. Các cô, các bà xă viên ngồi từ trong nhà
thờ ngồi ra hè... cho vui... bên dưới ḍng chữ:
“Je suis le chemin, la vérité et la vie”. Con đường đó,
khách nước ngoài "bắt buộc" phải qua
lại v́ nó ngay sau khách sạn quốc tế Thống
Nhất (tức Métropole cũ), cái khách sạn này đă có cả
từ nhà báo Burchett đến Madelène Riffaud, cho đến
nhà thơ nữ Bulgarie, Olga Dimitrova - cô "bồ" cao
lớn của Tố Hữu và cả nữ minh-tinh Jane
Fonda của Mỹ... tá túc dài dài.
NƯỚC MẮT VÙNG THẤP
Chính quyền cộng sản Hà-nội sợ tiếng nói
dân gian đến nỗi "cảnh giác" cả
với tay chân. Con trai luật sư Dương văn
Đàm chỉ can tội đánh lộn chút chút mà cũng
bị công an đến tận nhà xích tay đưa đi
cải tạo, trong lúc đó th́ con của Đinh thị
Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng
đảng, cũng như con của trung tướng
Nguyễn văn Vịnh, ủy viên trung ương
đảng cộng, đều can tội giết
người th́ được... qua Liên-xô để đào
tạo "nhân tài". Đó là cú dằn mặt với cái
Hội liên lạc những người công giáo yêu ḥa b́nh,
yêu tổ quốc nằm ở góc đường Ngô
Quyền - Hai Bà Trưng, ngay cạnh nhà hộ sinh Hoàn
Kiếm!
Cái dằn mặt thứ hai là việc băi chức "không
kèn không trống" của chủ tịch huyện Kim
Sơn (Ninh B́nh) Phạm minh Do, người giáo dân của
đất Phát Diệm đă có nhiều công trong kháng
chiến chống Pháp và nhiều cống hiến trong phát
triển nghề phụ ở Kim Sơn sau 1959. Ông Phạm
minh Do muốn đẩy mạnh diện tích trồng cói và
nghề nuôi vịt đàn cho giáo dân trong huyện trong lúc
Trung ương lại lấy đất của huyện
để lập nông trường quân đội mang tên Sao
Vàng. Chắc cho đến nay ông Phạm minh Do vẫn chưa
hiểu cái thâm ư sâu xa của chính quyền Hồ chí Minh là
muốn đặt một đơn vị vũ trang
thường trực ở cái đất Phát Diệm,
nơi mà mấy cán bộ tôn giáo vận của Mặt
Trận Tổ Quốc gọi là "Roma của Việt
NÔ-EN 69 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Năm 1968, đúng là năm con khỉ (mậu thân) cho nên
cuộc "Tổng tiến công và nổi dậy" do
Hà-nội kết thúc cũng khỉ thật. Quân đội
của ông Hồ chí Minh vào Nam làm cuộc "tiến
công" nhưng v́ nhân dân không "nổi dậy" nên
cuộc tiến công đó "ch́m xuồng" luôn.
Tướng Lê Chưởng, người ra lệnh tàn sát
tập thể đồng bào ở Huế, có sự
chỉ điểm của những tên nằm vùng là
tiến sỹ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhạc
sỹ... được ông Hồ chí Minh gọi ra
thưởng cho cái ghế Bộ trưởng bộ giáo dục.
Thật may cho học sinh Bắc Việt
Tháng 11-1992
Việt Thường