Chuyện thâm cung
dưới triều đại Hồ chí Minh
Việt
Thường
Mùa xuân đen tối
Cái Tết
Việt Nam vừa thiêng liêng vừa sâu đậm. Đó
là dịp để mọi bất ḥa trong gia đ́nh,
họ hàng; trong bà con lối xóm xí xóa cho nhau. Đó là
dịp để mọi người nhớ đến
gốc: cúng lễ Thành Hoàng, tổ tiên, vua bếp, đi
trảy hội. Đó cũng là dịp để
người ta sửa lại cá tính, hành vi:
ăn nói từ tốn, bạt thiệp; đi đứng,
ăn mặc chững chạc; nét mặt cởi mở, hi
vọng, nhân ái. Nhà cửa, đường
phố, lối xóm được quét dọn sạch
sẽ. Những thú tao nhă được tổ
chức như cờ người, thi hoa kiểng, đánh
đu, ném c̣m, thi thơ v.v... C̣n một cái thú
nữa là đốt pháo, xin xăm ở đền, chùa;
coi bói đầu năm; xuất hành lấy lộc và xông
nhà... mừng tuổi. Những
người đi làm phương xa cũng nhớ dịp
Tết về quê đoàn tụ cùng họ hàng lối xóm.
Ngày mùng Một, con cháu làm lễ chúc tụng ông bà, cha
mẹ, anh chị em; cùng nhau lễ gia tiên trong khói
hương ngan ngát; cùng nhau ăn bữa cơm đầu
năm với bánh chưng, cá thu kho, củ cải giầm,
dưa hành, củ kiệu, bún thang, gị lụa, chả
quế v.v... và được nghe kể
lại về phả hệ, về truyền thống
của gia đ́nh, tôn tộc, về làng xă với những
đóng góp cho đất nước các đặc sản
cũng như tài tử, văn nhân và anh hùng giữ
nước và dựng nước.
Cái di sản
sinh hoạt văn hóa tư tưởng ấy bắt
đầu từ thuở Hùng Vương cho đến
tận những năm đầu của thập niên 50, có
ai nghĩ và nhớ lại rằng cái Tết đă bị
cố t́nh phá bỏ, chà đạp tàn bạo bởi ông
Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản chóp bu cầm
quyền ở xung quanh ông ta. Có thể nói rằng, hơn
bốn ngàn năm lịch sử của Việt Nam, chưa
có một triều đại nào, một tập đoàn
cầm quyền nào - là người Việt Nam - đề
ra đường lối phá hoại các di sản văn
hóa, kiến trúc, sinh hoạt tư tưởng... của dân
tộc Việt Nam như ông Hồ chí Minh và tay chân thân tín.
Cố t́nh xóa bỏ cái Tết truyền thống của dân
tộc để thay vào cái "Tết" thành lập
đảng (cộng sản) 3-2 và "Tết"
độc lập 2-9, nhưng ông Hồ chí Minh và những
kẻ thừa kế ông ta đă thất bại thảm
hại, tuy rằng việc thực thi chính sách "phản
dân hại nước" đó có làm tổn thương
sâu đậm đến cả cơ sở vật
chất lẫn ư thức xă hội về truyền
thống của dân tộc ta. Khái niệm cách mạng
- thực ra là tiến bộ và tốt đẹp - đă
bị ông Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế ông
ta lạm dụng làm b́nh phong che đậy những chính
sách và những hành động vừa lạc hậu
vừa tàn bạo, gây nhiều hậu quả tai hại
nghiêm trọng và lâu dài cho đất nước và dân
tộc Việt Nam, c̣n hơn cả quân xâm lược
ngoại bang.
Tết cổ truyền
của Việt Nam bị ông Hồ Chí Minh và các đệ
tử của ông ta đặt trong phạm trù "hủ
tục lạc hậu", cần phải "cách mạng"
lại.
TỤC CŨ
LỄ MỚI
Nỗi khát khao độc
lập, tự do của nhân dân Việt Nam những
năm trước 1945 cộng với sự thiếu thông
tin và những thủ đoạn tuyên truyền bịp
bợm của những người cộng sản
Việt Nam do ông Hồ chí Minh lèo lái và đào tạo là
những yếu tố hợp thành với những yếu
tố khác nữa, đưa đến sự thành công
của ông Hồ Chí Minh trong việc giành được cái
ghế chủ tịch nước của Việt Nam
dưới chế độ cộng ḥa.
Cái tên Hồ chí Minh, trong
những năm đầu của thập niên bốn
mươi, được gắn liền vơí các
huyền thoại. "H́nh
như" Hồ chí Minh là Nguyễn ái Quốc. "Nghe nói" Hồ chí Minh là một nhà nho yêu
nước, được cụ Phan Bội Châu "kính
nể". "Lại nghe nói" Hồ chí Minh là
hậu duệ của Quang Trung Nguyễn Huệ (nguyên là
họ Hồ), gốc gác xa xưa là gịng dơi vua Nghiêu bên Tàu,
có chí lớn là đánh đuổi giặc Pháp giành lại
độc lập cho Việt Nam, đồng thời
cũng sẽ nối chí của Quang Trung là lấy lại
đất cũ của Việt Nam là Lưỡng Quảng
(Quảng Đông và Quảng Tây). "Nghe nói" cụ
Hồ chí Minh mỗi mắt có hai con ngươi giống
công tử Trùng Nhĩ bên Tàu, làm nên
nghiệp bá - tức Tấn văn Công thời Đông Chu.
Những huyền thoại đó lan
từ miền núi xuống đồng bằng; từ nông
thôn về thành thị và cuối cùng nó không c̣n là huyền
thoại nữa mà được coi như "sơ
yếu lư lịch" của ông Hồ chí Minh. Chẳng
thế mà cuối tháng 8-1945, khi ông Hồ chí Minh từ Thái-
nguyên về Hà-nội, các thành viên là cộng sản trong
Việt Minh ở huyện Gia-lâm đă tổ chức
đón như đón Vua: cũng hương án khói nhang
nghi ngút, cờ quạt, chiêng, trống, quan viên, bô lăo trong
làng, xă của huyện mặc áo thụng qùy lễ vọng
hai bên đường.
Chính Phủ Liên
Hiệp mà ông Hồ chí Minh là chủ tịch; cụ
Nguyễn Hải Thần là phó chủ tịch; cố
vấn chính phủ là cựu hoàng Bảo Đại và các
thành viên của chính phủ c̣n bao gồm những nhân
sỹ trí thức yêu nước như cụ Huỳnh thúc
Kháng, Phan kế Toại, Bùi bằng Đoàn, Nguyễn
văn Tố... là đặc trưng
của nền dân chủ sơ khai của nước
Việt Nam độc lập của những năm
1945-46... Cho nên ông Hồ chí Minh vẫn c̣n khoác
áo của một "người Việt Nam yêu
nước và... dân chủ". khi nói với đám
đông, bao giờ ông Hồ chí Minh cũng lễ phép
"kính thưa các cụ phụ lăo..." và xưng là
"tôi". Những "hiện tượng tiêu
cực" lúc đó trong xă hội Việt Nam mới giành
được độc lập, ông Hồ chí Minh
đều "chân thành" nhận lỗi về phần
chính phủ và cá nhân ông ta. Ngày Tết dân tộc, ông Hồ
chí Minh tặng quà cho các cụ già nhiều tuổi và các cháu
nhỏ theo đúng truyền thống dân
tộc là "kính trên nhường dưới". Quan
điểm, hành vi lúc ấy của ông Hồ chí Minh đă
đoàn kết được nhân dân Việt Nam, đă
được nhân dân Việt Nam bao gồm các đảng
phái, đoàn thể, tôn giáo... "ḥa
thuận, ḥa giải, ḥa hợp" để bảo
vệ và xây dựng đất nước. Đáng
tiếc là nhân dân Việt Nam đă bị lừa. Ông
Hồ chí Minh và những người cộng sản
cầm quyền xung quanh ông ta đă lừa bịp nhân dân
Việt Nam, cho đến nay là thế hệ thứ ba!
Chẳng khác ǵ
chuyện hồ ly tinh chín đuôi, mượn xác hiền
nữ Tô Đát Kỷ để lọt vào cung của
Trụ Vương. Và, khi đă nắm được
trọn quyền lực th́ bắt đầu ra oai tác quái,
hăm hại trung thần, giết hại lương dân. Ông Hồ chí Minh cũng vậy. Phải chờ
đến khi Trung Cộng làm chủ lục địa
Trung Hoa vào năm 1949, dựa vào Trung cộng, ông ta trở
mặt tiêu diệt những lực lượng đă "ḥa
thuận, ḥa hợp và ḥa giải" với ông ta và
bắt đầu từng bước một xóa bỏ nên
dân chủ sơ khởi của Việt Nam, xóa bỏ
mọi tính truyền thống của dân tộc Việt Nam,
xây dựng một chế độ chính trị toàn chế
kiểu Anax của thời trung cổ - trong đó vua
cũng đồng thời là thủ lănh tôn giáo, kinh tế
và quân sự; và nhà độc tài tồn tại nhờ vào
giới tướng lănh có đặc quyền cũng
như tầng lớp thư lại (tức cán bộ).
Phương pháp cố
hữu của ông Hồ chí Minh là nêu lên những khẩu
hiệu hợp lư để che đậy những hành
động phi lư, bất nhân. Trong cái
Tết dân tộc cũng vậy, ông ta hô hào "tiết
kiệm, lành mạnh hóa", cái đó là đúng, bởi
đất nước đang có chiến tranh và sau
chiến tranh, đất nước c̣n nghèo nàn, cần
phải tiết kiệm cũng như cần phải xóa
bỏ nạn cờ bạc, hút thuốc phiện, xiết
nợ... trong dịp Tết. Nhưng, bên cạnh những
cái "hợp lư" đó th́ ông ta ngăn cản, hạn
chế việc xă giao, thăm hỏi trong gia đ́nh,
lối xóm; việc cúng lễ tổ tiên, lễ đền,
lễ chùa v.v... đồng thời ông ta
cho lồng vào những lệ mới của ngày Tết
đó là lập bàn thờ Tổ quốc vơí cờ
đỏ sao vàng và cờ búa liềm để thờ
ảnh ông ta và một số nhân vật cộng sản
quốc tế như Marx, Engels, Lénine, Staline, Mao trạch
đông. Và, những buổi trước đây nghe kể
về phả hệ, về truyền thống gia đ́nh,
làng xă... th́ nay thành nghe về tiểu sử Hồ chí Minh và
những nhân vật cộng sản quốc tế, về
lịch sử đảng cộng sản Nga và công ơn
của "Đảng" và của "Bác" đă
đem "cơm no, áo ấm và độc lập, tự
do, hạnh phúc" cho nhân dân Việt Nam. Thanh thiếu niên
được dạy những điệu múa tập
thể của Nga-xô và Trung Cộng và hát những bài ca
ngợi hai nước "đàn anh" đó với các
lănh tụ cộng sản của họ.
LỰC
LƯỢNG "CÁCH MẠNG"
Để "cách
mạng" lại Tết cổ truyền của dân
tộc Việt Nam - bị xếp là hủ tục lạc
hậu - ông Hồ chí Minh dựa vào tầng lớp thanh
thiếu niên. Những người
cộng sản làm công tác thanh thiếu niên tích cực
"vô văn hóa" tầng lớp công dân tư hon này.
Bằng những chuyện kể miệng, họ làm cho các
em "không sợ ma" nhưng cũng không tin vào
"hồn" của tổ tiên, sự linh thiêng của
thần, Phật, Thành Hoàng của làng, xă. Cho nên, vào dịp
Tết dưới chính quyền "Hồ chí Minh"
đă xảy ra những vụ vặn đầu Thành Hoàng;
"ỉa" lên bệ thờ đền, chùa; ăn
vụng đồ cúng trên bàn thờ tổ tiên; đào bia
ở các mộ. Thanh thiếu niên chỉ tụ họp hát
"son, đố, ḿ", hát bài "quốc tế ca",
"ca ngợi Hồ Chủ tịch", "ca ngợi
đảng lao động Việt Nam". Những câu ru con ngàn đời:
"Công cha
như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra..."
bị đổi
thành:
"Công
"Bác" như núi Thái sơn
Nghĩa "Đảng" như nước trong
nguồn chảy ra".
Câu đối Tết th́
một vế ca ngợi ông Hồ chí Minh, một vế ca
ngợi đảng cộng sản. Trong
chùa, ngang hàng với Quan Âm Bồ Tát là ảnh Hồ chí Minh,
ở đền cũng vậy. Ở
làng, xă đều có cổng chào với ảnh Hồ chí
Minh và một vài ảnh các nhân vật cộng sản
quốc tế và cờ búa liềm. Họ c̣n tổ
chức lễ rước ảnh Hồ chí Minh, tổ
chức đêm văn nghệ diễn kịch mà nội dung
là đả kích việc thờ cúng tổ tiên, thần Phật,
Thành Hoàng, vua bếp... và kết thúc bằng màn thiếu nhi
đánh trống ếch, rước ảnh "bác
Hồ". Cấu trúc gia đ́nh bị phá bỏ bởi
mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái. Tín ngưỡng ngàn
đời của làng xă bị thay bằng sự sùng bái cá
nhân ông Hồ chí Minh. Thậm chí những địa danh mang
dấu tích của lịch sử, của văn hóa cũng
bị đổi tên như Phong Vực, Đồng
Lương thành Vạn Thắng; như Cổ Liêu thành Xuân
Thủy v.v... là tên của tay chân thân tín
của ông Hồ chí Minh vẫn c̣n đang sống sờ
sờ ra đó. Đ́nh làng - một dạng câu lạc
bộ sinh hoạt văn hóa của nông thôn xưa - bị
biến thành trụ sở ủy ban hoặc công an xă, làm kho tàng mà cũng có khi là trại giam
của địa phương. Bài vị, tượng
thờ, cờ xí bị xếp xó hoặc vứt bỏ,
thay vào đó là bàn thờ Tổ quốc của địa
phương, cũng đèn nến, lư hương
để "thờ sống" ảnh Hồ chí Minh và
xung quanh đền là các "lănh tụ" của
"nước bạn" như Mao trạch Đông, Chu
Đức, Chu ân Lai, Kim nhật Thành, Phác chánh Aí, Malenkov,
Vorochilov, Bulganine, Molotov...
Trong tay ông
Hồ chí Minh, ngày Tết truyền thống càng tăng thêm bất
ḥa trong gia đ́nh, lối xóm; là dịp để soi mói
nhau; là thời điểm cho con cái bộc lộ mạnh
mẽ tính "cách mạng" của ḿnh bằng cách
cản trở việc thờ cúng tổ tiên. Cha
mẹ lo bàn thờ tổ c̣n con cái lo bàn thờ sống ông
Hồ chí Minh. Có chính quyền cộng sản hỗ
trợ nên đương nhiên phần thắng bao giờ
cũng về phiá con cái. Đă có nhiều gia đ́nh con cái
ngang nhiên đập phá bàn thờ tổ tiên... và những
đứa "mất dạy" đó được
chính quyền của ông Hồ chí Minh biểu dương là
"cách mạng tiến bộ". Một chứng minh rơ
ràng nhất là ngay đầu năm 1975, ở khu
Bảy-gian thuộc phố Phan Chu Trinh Hà-nội, con đánh
cha thâm tím mặt mũi, nhưng khi đưa ra đồn
công an Phan Chu Trinh (thuộc khu Hoàn kiếm), người con
c̣n được tuyên dương là tiến bộ v́
đă dám đánh "thế lực lạc hậu" dù
đó là cha đẻ!!! (Người bị đánh là ông
Vinh, có vợ cả và các con lớn ở Pháp).
TẾT U ÁM
Dựa vào Trung cộng,
ông Hồ chí Minh đánh thẳng thực dân Pháp trong
chiến dịch biên giới 1950. Theo đúng
tinh thần "chính quyền được đẻ
từ họng súng", cuối năm 1951 ông Hồ chí Minh
cho ra khỏi lồng giấy con qủy đỏ
"Đảng Lao động Việt Nam", công cụ
thực hiện những tư tưởng "phản dân
hại nước" của ông ta. Năm 1952, ông Hồ
chí Minh cho giết đại tá Trần dụ Châu, chủ
nhiệm quân nhu, mục đích chính là thị uy với
mọi loại cán bộ cả quân sự lẫn dân
sự. Cũng với mục đích đó, trong hội
nghị quân sự, ông Hồ chí Minh đă "bạt tai" đại tá Phùng thế Tài -
được coi là loại du đăng đầu ḅ
nhất trong binh lính của ông Hồ chí Minh - và trấn áp
trung tướng Nguyễn Sơn (khi ở quân đội
Trung cộng đeo lon đại tướng). Ra vẻ
nghiêm khắc như vậy, nhưng chính ông ta lại
"tha bỗng" cho Bút Tre, trưởng ty thông tin Phú
Thọ, tác giả đơn bướm:
"Trên
rừng con khỉ đánh đu
Thằng Bô-la-éc mút cu cụ Hồ"
v́ xét cho cùng, Bút
Tre vẫn là "đề cao" Hồ chí Minh. (Sau này khi
hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phú Thọ, Bút Tre c̣n
được vào tỉnh ủy giữ chức phó ban tuyên
huấn tỉnh ủy).
Rồi tiếp
theo là "chỉnh quân", "chỉnh đảng",
"cải cách ruộng đất"... người dân
bị giết và bị tù vô tội vạ... Thế là cái khởi
thủy người dân đi theo ông Hồ chí Minh v́ ông ta là
thành viên của Chính Phủ Liên Hiệp; v́ muốn đánh
thực dân Pháp cứu nước, chắc chắn không
phải "mê" chủ nghĩa xă hội, v́ có ai
biết nó là cái quái thai ǵ đâu... th́ nay "phải
theo" ông ta v́ bị tước hết tài sản, bị
lôi ra khỏi tổ ấm cộng đồng làng xă
để bị xếp vào các phạm trù mơ hồ
"nhân dân" hoặc "phản động",
nghĩa là "v́ sợ" mà đi theo.
Sau 1954, Tết Nguyên
đán ở miền Bắc thật là u ám. Người
không có của để ăn Tết chiếm đại
bộ phận dân chúng mà ngay người nào c̣n có chút
tiền, vàng, cũng không dám ăn v́ sợ hàng xóm và con cái,
họ hàng tố giác. Nhà nước của ông Hồ chí
Minh quản lư chặt chẽ mọi sinh hoạt của
nhân dân bằng chính sách quản lư hộ khẩu và chế
độ tem phiếu lương thực, thực
phẩm, tiền lương v.v... Ở các thành phố
lớn như Hà-nội, Hải-pḥng, Nam-định, ông
Hồ chí Minh c̣n có "sáng kiến" xâm nhập hợp
pháp mọi gia đ́nh "công dân" để "khám
xét" gầm giường, bàn thờ, tủ, ḥm...
bằng cách đẻ ra "tổ vệ sinh
đường phố" để đến tất
cả mọi hộ "diệt gián" mà thành phần
gồm: đại diện thanh niên, y tế tiểu khu và
công an quản lư đường phố. Trứơc
Tết vài ngày, toàn thành phố được lệnh
"tổng vệ sinh" và đương nhiên thông qua
"tổ vệ sinh đường phố" có thành
viên là công an, chính quyền Hồ chí Minh cho "khám nhà"
toàn dân định kỳ (chưa kể đột
xuất). Có thể nói là nhiều gia đ́nh quá sợ hăi
phải "dẹp" bàn thờ tổ tiên và hầu
hết mọi nhà đều phải lập "bàn thờ
tổ quốc thờ sống Hồ chí Minh" để
khỏi bị cơ quan an ninh "hỏi thăm sức
khỏe".
Các trụ
sở tiểu khu đều được trang hoàng
cờ hoa, bàn thờ tổ quốc thờ Hồ chí Minh;
ngoài cửa và bên trong trụ sở đều dán các câu
đối do Nhà xuất bản Phổ thông in ấn và phát
hành. Tất nhiên nội dung là ca ngợi Hồ chí Minh và
đảng của ông ta. Trên bàn thờ Hồ chí Minh
cũng lư hương, cây nến, cành
đào, bánh chưng, trái cây, mứt... nghi ngút suốt ba ngày
Tết. Kinh phí do dân đóng góp. Trụ sở
được công an đường
phố và tự vệ canh gác... cùng với đội
cứu hỏa nhân dân và tổ chữ Thập Đỏ
đề pḥng cháy nhà và... ỉa chảy.
Tết Nguyên
đán được ông Hồ chí Minh và đảng
của ông ta tổ chức cho nhân dân thật là... chu đáo... thật là...khỏe... thật
là... lành mạnh và thật là... công bằng và v.v...
CHU ĐÁO
Chu đáo
bởi v́ trước Tết, nhà ai cũng được
"tổ vệ sinh đường phố" có thành
viên là công an đến mở giúp các ḥm, tủ, gậm
giường, xó bếp... để phun thuốc diệt
gián cũng như kê dọn lại nhà cửa cho gọn
gàng, ngăn nắp.
Chu đáo
bởi v́ ngay từ trước Tết cả hơn tháng
trời, các thành phần trong tiểu khu bị coi là
"phức tạp" như nhân viên, binh lính, sỹ quan
trong chế độ Bảo Đại; các tư sản,
tiểu thương, tiểu chủ... bị cải
tạo tại chỗ; các trẻ em hư hỏng; những
người chưa có công ăn việc làm rơ ràng v.v... đều "được" cho đi
các trại cải tạo. Số nào
được coi là "căn nhẹ" hơn th́
bị tạm giam trước Tết vài ngày và sau Tết
vài ngày thả ra. Số nhẹ hơn nữa th́
bị gọi lên đồn công an
để "răn đe". Đă thế, suốt tháng
củ mật, tự vệ, dân pḥng có công an
đường phố lănh đạo, ngày đến
tuần tra, canh gác. Công an và phụ trách thanh thiếu nhi ngày
nào cũng "hỏi vui" các em về t́nh h́nh bố,
mẹ, họ hàng các em "làm ăn" ra sao, có thành kính và
nhiệt t́nh trang hoàng "bàn thờ tổ quốc"
của gia đ́nh không; có "lạc hậu mê tín" cúng
kiến người đă chết không; có "kiếm
chác" được cái ǵ, ở đâu, bằng cách nào,
những tiêu chuẩn Tết ngoài các thứ Nhà Nước
qui định cho từng đối tượng không.
Chu đáo
bởi đêm giao thừa, đại diện các hộ
đến trụ sở tiểu khu để cùng lễ
sống "Bác Hồ", chúc "Bác" sống lâu
để lănh đạo toàn dân đến ấm no,
hạnh phúc như vẫn ghi trên tiêu đề các công
văn, hôn thú, khai sinh, khai tử, lệnh khám nhà và bắt
giam v.v..., và cũng hưá qua quyết tâm thư là quyết
phấn đấu v́ "sự nghiệp" của
"Bác" cho đến... hơi thở cuối cùng. Rồi mọi người, thành kính nghe
"Bác" chúc Tết đồng bào qua loa truyền thanh
và nghe thơ của "Bác". Đây là lần
thứ hai nghe lại, v́ bài này viết đọc trong
dịp năm mới dương lịch, đă thành
"tài liệu học tập" trong cơ quan và tổ
dân phố; thành "kim chỉ nam" cho các bài báo - cả
báo tường ở cơ quan, khu phố - trích dẫn,
chứng minh, ca ngợi chế độ của Hồ Chí
Minh. C̣n bài thơ và bài nói đă được in trên
giấy hoa có h́nh chim rồng, phượng; được
bán đến từng hộ dân phố, cơ quan
trường học để dán mừng Tết. Những
Hoài Thanh, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Tố Hữu... đă
đi ca ngợi khắp nơi về lời hay, ư sâu
của bài thơ và nó đă được đưa vào
học đường các cấp - kể cả nhà
trẻ!
KHỎE
Dưới
chính quyền Hồ chí Minh, Tết Nguyên Đán
được qui định nghỉ hai ngày rưỡi:
chiều Ba Mươi, ngày Mùng Một và Mùng Hai Tết.
Hầu hết
người dân đều làm việc trong các cơ quan nhà
nước, hoặc hợp tác xă, hoặc tổ hợp tác
- hai loại sau cũng do cơ quan chức năng của
nhà nước tương ứng ngành nghề quản lư. Cho nên cái
Tết khỏe v́: sáng Ba Mươi, tất cả
phải làm tổng vệ sinh ở cơ quan cho gọn
sạch rồi niêm phong pḥng ốc, tài liệu, giao cho
bộ phận bảo vệ có tự vệ cơ quan
phối hợp canh gác; chiều Ba Mươi làm tổng
vệ ở sinh gia đ́nh và vĩa hè, đường
phố (các gia đ́nh bị lưu ư được
chiếu cố cho tổ vệ sinh đường phố
có công an đi theo đến "giúp đỡ" làm
vệ sinh từ xó tủ đến gậm giường);
sáng Mùng Một, tất cả phải ra ngoại thành
bằng phương tiện tự túc để
hưởng ứng "Tết trồng cây" do ông
Hồ chí Minh đưa ra "sáng kiến"; chiều
Mùng Một về đến nhà tắm giặt sạch
sẽ đất bùn; tối Mùng Một lễ Tết các
chức sắc ở tiểu khu và khu phố; ngày Mùng Hai
"cuống cuồng" đưa vợ con đi lễ
Tết các "thủ trưởng" cơ quan với
tốc độ : đi bộ... 5 cây số/giờ; xe
đạp... 12 cây số/giờ. Thật là khỏe!
LÀNH MẠNH
Ông Hồ chí Minh đă
"lành mạnh" hóa ngày Tết của nhân dân Việt
Nam. Cấm hái lộc v́ như vậy là phá
hoại "tài sản của nhân dân"; cấm
"xuất hành", cỗ lớn cúng tổ tiên v́ như
vậy là lạc hậu, mê tín (nhẹ hơn phản
động chút chút); trẻ em không có lỳ xỳ v́ bố
mẹ đào đâu ra tiền. Họ hàng, bè bạn chúc
mừng miệng v́ không có "tiêu chuẩn" mời nhau ăn uống. Các đền
bị dẹp từ lâu. Ở Hà-nội
chỉ c̣n đền Ngọc Sơn và đền Quan Thánh
được mở cửa mấy ngày Tết, nhưng
không cho thắp nhang, đốt vàng, xoa chân "Đức
Ông". Mọi người chỉ
đến xem như một di tích lịch sử. Không được xin xăm và bói toán. Không cờ bạc, rượu chè, trảy
hội. Không ăn mặc
"nhố nhăng"; cán bộ mặc đại cán,
nhân dân áo ngắn, hầu hết mặc áo bông màu xanh công
nhân hoặc màu cỏ uá bên ngoài. Ra
đường, nếu không nh́n mặt th́ già trẻ, trai
gái trông đều lẫn lộn cả. Các
vườn đào Nhật tân, vườn hoa Ngọc Hà
bị "cải tạo" trồng hoa màu để
tăng thêm lương thực và cây công nghiệp (y hệt
cảnh Sài-g̣n sau tháng 4-1975: những vĩa hè cỏ ở
đường Gia Long... bị trồng khoai ḿ; sân bay Tân
Sơn Nhất bị trồng sả...); chỉ lưu
lại số ít do công ty công viên (quốc doanh) quản lư
lấy hoa, cây cảnh... phục vụ các cơ quan của
đảng (cộng sản), chính phủ và các sứ quán.
Trẻ em th́ có bóng bay là dụng cụ chống sinh
đẻ do ủy ban dân số của Liên Hiệp Quốc
"viện trợ" đem ra nhuộm và "thổi
miệng", vừa tiết kiệm vừa
"bền". Người lớn th́ có sách, truyện bán
dịp Tết như: tuyển tập Lê-nin, tư bản
của Kác-Mác; phép biện chứng của tự nhiên
của Engels, Nhật kư trong tù của Hồ chí Minh; thơ
của Tố Hữu; truyện Thượng Cam Lĩnh
của Tàu; các tiểu thuyết của Nga từ Boris Polévoi
đến Tolstoi; từ Korjevnikov đến Solokhov,
Erengbourg v.v... Ngoài ra có các phim về
"đấu tranh giai cấp" của cả Nga và Tàu.
Các sân khấu ca nhạc hát ca ngợi "Đảng và
Bác" với các điệu vũ dân gian nhưng thấy
có bóng dáng "Ba Tàu" và "con Gấu Nga". Có lẽ
cái thú "êm dịu" nhất là xem cây cảnh và chọi
chim ở sân đền Quan Thánh mà cười
được thực ḷng v́ cái "ngây ngô" của cán
bộ văn hóa Hà-nội có giám đốc là Nguyễn
Bắc, người có sáng kiến quét vôi trắng toàn
bộ Tháp Rùa cũng như đánh bắt rùa ở Hồ
Gươm lên ăn thịt (con nặng 80 kg th́ ăn
hết cả thịt lẫn mu; con nặng 120kg th́ ăn
thịt c̣n cái mai đem "triển lăm" ở Văn
Miếu). Năm nào cũng được nghe cán bộ
văn hóa "a-lô" trong ngày chọi chim: - không biết có
cố t́nh không - "Các cụ muốn chọi chim xin
xếp theo hai hàng. Bên
phải tôi là các cụ "chim to"; bền trái tôi là các
cụ "chim nhỏ". Đề
nghị trật tự canh chừng không cho ai
được sờ, mó làm chim các cụ sợ!"
Hà-nội thanh
lịch khi vào tay ông Hồ chí Minh th́ ngày Tết
được lành mạnh hóa như vậy đấy và
được tô hồng là "Tết văn hóa" trái
với xưa kia là hủ lậu, mê tín, dị đoan và
lăng phí!!!
CÔNG BẰNG
Dưới chính quyền
Hồ chí Minh, công dân Việt Nam bị phân làm 13 loại. Mọi
hưởng thụ văn hóa và vật chật...
đều có ranh giới rơ ràng. Ông Hồ chí Minh và tay chân
luôn khoe ầm ỹ rằng ở Việt Nam (miền Bắc)
có khung lương "tiến bộ" và "công
bằng" nhất thế giới!(?) Bởi
v́ lương chủ tịch nước - là Hồ chí Minh
- có 270 đồng và lương khởi điểm
của nhân viên ở bậc 1 là 36 đồng.
Nghĩa là sự chênh lệch giữa người cao
nhất với người thấp nhất là 7,5 lần. Có điều ông Hồ chí Minh và
tay chân không chịu thật thà khai báo những sự
thực phũ phàng là có sự qui định của ban
tổ chức trung ương đảng (cộng sản)
với từng đối tượng như các ủy viên
ban bí thư lên đến ủy viên bộ chính trị th́
hưởng theo chế độ cộng sản chủ
nghĩa (mặc dù Việt Nam lúc đó mới là chế
độ dân chủ cộng ḥa)- cần
ǵ có nấy cho cả bản thân lẫn gia đ́nh vợ
con. Từ ủy viên trung ương trở xuống
(cả dự khuyết) cho đến các bộ
trưởng, thứ trưởng (cả ngoài đảng
cộng sản) đều có sổ cung cấp đặc
biệt ở cửa hàng bù giá Tôn Đản; thí dụ
cửa hàng thu mua gà của các hợp tác xă nông nghiệp, các
nông trường quốc doanh với giá 2 đồng 4
một ki-lô nhưng bán lại cho đối tượng có
tiêu chuẩn vào mua với giá 7 hào một ki-lô, rẻ hơn
giá thu mua 3,5 lần, chưa kể tiền vận
chuyển, hư hao, lương công nhân viên của cửa
hàng v.v... v́ công quỹ phải bù lỗ.
Cán bộ trung cao - từ vụ trưởng, cục
trưởng, chuyên viên 2 trở lên - có sổ mua hàng ở
cửa hàng phố Nhà Thờ và Vân Hồ (Hà-nội). Các
loại khác mua theo tem phiếu qui
định cho từng đối tượng, do
thương nghiệp địa phương bán thu tem. Điều cần lưu ư là thành phần này -
loại tem phiếu - tuy ai cũng có tem phiếu qui
định có vẻ công bằng lắm, nhưng không
phải ai cũng "có quyền" mua hàng. Bởi
v́, tỷ dụ có 10 người được chế
độ tem thịt là lạng rưỡi/tháng, nhưng
thương nghiệp chỉ có đủ thịt bán thu tem
cho 6 người, thế là 4 người c̣n lại, về
danh nghĩa cũng được nhận đủ tem
phiếu như "thiên hạ", nhưng thực tế
không có thịt mà mua. Kết quả là hoặc vứt tem
đi v́ quá hạn hoặc bằng ḷng mua thay thế bằng
đậu phụ (3 lạng/tháng), được gấp
đôi đúng như công thức 7kg lá khoai ḿ bổ
dưỡng tương đương 1kg thịt ḅ.
Cho nên hàng hóa phục
vụ Tết Nguyên Đán dưới chế độ
Hồ chí Minh cũng phân phối như trên. Người
dân Hà-nội đă uất ức nói rằng:
"Tôn
Đản là chợ Vua, Quan
Vân Hồ* là chợ trung gian, nịnh thần
Bắc Qua là chợ nhân dân
Hàng Bè là chợ công nhân anh hùng."
Nghĩa là trong
khi hàng quan lại đỏ mua gà ở cửa hàng cung
cấp bù giá Tôn Đản có 7 hào một ki-lô; ở Vân
Hồ hoặc ở phố Nhà Thờ cửa hàng cung
cấp cho cán bộ trung cao 1 đồng 50 một ki-lô;
người dân thường phải mua ở chợ
Bắc Qua với giá thị trường tự do 7
đồng một ki-lô, và, công nhân ra chợ Hàng Bè
để mua chân gà, đầu, cổ, cánh - đồ
phế tha&ucirrc;i của gà làm cung cấp cho chuyên gia
Nga-xô và Trung-cộng (cần lưu ư rằng Hồ chí Minh
và tay chân vẫn phỉnh phờ rằng giai cấp công nhân
là giai cấp lănh đạo cách mạng).
Hàng Tết phân
phối cho nhân dân, công nhân và cán bộ đảng viên
thường, theo sổ hộ tịch gia đ́nh, phân
loại theo hộ độc thân; 2-3 người; 4-6
người; 7 người trở lên; không phân biệt nam
nữ, già trẻ lớn bé. Người đi mua phải
mang phiếu mua hàng Tết với sổ hộ tịch và
tùy theo cách phân loại hộ nói trên mà
được gói to hay nhỏ, ít hay nhiều.
Thường mỗi gói đều có: một cái
"gọi là" bánh chưng, v́ được gói xô
bồ gạo lẫn cả tẻ, đậu lẫn
sạn, miếng thịt lợn bằng cái vảy mũi
cả b́ lẫn lông, có khi c̣n chưa chín rền; một gói
trà; một hoặc hai bao thuốc lá; một dúm hạt
dưa; một gói mứt lẫn lộn bí và lạc;
một muỗng cà phê bột ngọt và cuối cùng, hộ
đông người có thêm một bánh pháo (phần lớn
đốt không thèm nổ) và một chai rượu
quốc doanh. Cái công bằng ở đây là dù già hay trẻ,
dù nam hay nữ, tiêu chuẩn đều tính như nhau,
nghĩa là đưá bé vừa đẻ cũng có phần
thuốc lá và trà cũng như cụ già không c̣n cái răng
nào cũng có tiêu chuẩn mấy viên mứt lạc! Đúng
là, úm ba la, chúng ta đều có!
Chút bố thí
như vậy mà trước và sau Tết, báo, đài ra
rả kể ơn của "đảng và bác"
với nhân dân như Trời, Biển! Những
người được ăn Tết Nguyên Đán
trứơc khi có chính quyền Hồ chí Minh th́ biết
nhưng không dám nói c̣n trẻ em ra đời và lớn lên
thời kỳ Hồ chí Minh cầm quyền th́ tin là
thật và vui mừng v́ cả năm chỉ có vài lần
gia đ́nh được mua "bột ngọt"! (dù chỉ là một muỗng cà-phê).
Tuy túi hàng
Tết khiêm tốn như thế, tuy ḷng thèm khát âm thầm
của bao đêm ngày, nhưng rất nhiều gia đ́nh
nhân dân, cán bộ, đảng viên thường, không có
tiền để mua. Và, số khá lớn chạy vay được
tiền mua túi hàng Tết th́ cũng phải giành các thứ
như trà, thuốc lá, mứt, bánh chưng
để biếu các "thủ trưởng" lớn
nhỏ ở cơ quan, các chức sắc ở khu phố,
nhất là công an đường phố. Phần lớn ăn Tết tinh thần. Đấy là
sự Công Bằng lớn nhất và cao thượng
nhất mà ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta
đem lại cho người dân!!!
HỒ CHÍ MINH
CÓ BIẾT KHÔNG?
Cả cuộc
đời ông Hồ chí Minh sống bằng nghề làm gián
điệp: là nhân viên KGB của Nga theo rơi hoạt
động của đảng cộng sản Tàu do Mao
trạch Đông lănh đạo; hợp tác với phản
gián Trung Cộng để theo rơi quân Tưởng giơí
Thạch; là gián điệp của Trương phát Khuê
để giám sát các hoạt động của
người Việt Nam yêu nước ở bên Tàu; cộng
tác vơí cơ quan OSS (tiền thân CIA) của Mỹ
chống Nhật; cộng tác với Pḥng Nh́ của thực
dân Pháp để hăm hại những người Việt
Nam yêu nước khác quan điểm của ông ta (như
cụ Phan Bội Châu, ông Hồ Tùng Mậu, trung
tướng Nguyễn B́nh), cho nên ông Hồ chí Minh có tai,
mũi và mắt tinh và thính hơn các đệ tử
rất nhiều. Ông ta đóng kịch giỏi đến
nỗi - cho đến nay - nhiều người vẫn cho
rằng ông ta là tốt, các sai lầm đều do tay chân
như Trường Chinh, Lê Duẩn... mà ra, kể cả
những nạn nhân ông ta cũng nghĩ vậy. Cho nên, ngày
Tết, ông Hồ chí Minh đột ngột đến
thăm gia đ́nh ông Bùi hưng Gia, nhà tư sản ở
phố Hàng Trống (Hà-nội) đă quyên góp trong tuần
lễ vàng cho Chính phủ Liên hiệp một trăm ki-lô
vàng. Nhưng thăm th́ thăm, gia đ́nh ông Bùi hưng Gia
vẫn bị đóng nhăn tư sản, cả tầng
lầu căn nhà của gia đ́nh bị
"mượn" cho cán bộ đảng viên ở và
cửa hàng bị "công tư hợp doanh" theo
kiểu Việt Nam thường nói là "buôn chung vơí
đức Ông". Ông ta cũng tự động
đến chúc Tết, cho kẹo một gia đ́nh "có
công với cách mạng chống Pháp" ở con hẻm
phố Khâm Thiên mà đêm giao thừa mấy mẹ con
gầy ốm đang ôm nhau trong căn nhà xiêu vẹo như
chuồng lợn, lối vào đầy bùn hôi thối ở
cống thành phố hỏng chảy ra, cơm chiều
chưa có và cũng chẳng có tiền mua túi hàng Tết theo
tiêu chuẩn tem phiếu! Ông Hồ chí Minh
rơm rớm nước mắt... cá sấu.
Những ngày sau đó và cả nhiều năm sau, đó
vẫn là "đề tài" sáng tác của lũ văn nô ở cái hợp tác xă 51
Trần Hưng Đạo (Hà-nội). C̣n cái
gia đ́nh nghèo khổ "có công với cách mạng
chống Pháp" đó vẫn cứ nghèo mạt rệp,
bị "bác và đảng" quên ngay từ lúc giao
thừa. Cả nước vẫn đói khổ và
ngày càng đói khổ trong lúc các cơ sở phục vụ
riêng cho quan lại đỏ chóp bu mọc lên như
nấm: bệnh viện Việt-Xô; cửa hàng cung cấp
đặc biệt ở Hàng Trống, ở Tôn Đản;
khu nghỉ mát ở Tam Đảo, Băi Cháy, Đồ
Sơn, khu Quảng Bá, Trà Cổ... tiêu
chuẩn nghỉ hè cả gia đ́nh (3 đời) sang
Hắc Hải (Nga-xô), sang Tàu (Liễu-châu), Động
Đ́nh Hồ v.v... và v.v...
Mở
đầu bằng Hồ chí Minh cho đến nay là các
Đỗ Mười, Vơ chí Công, Vơ văn Kiệt... với
"đổi mới", chưa bao giờ đại
biểu quốc hội (bù nh́n) chứ chưa nói
đến người dân thường được phép
biết ngân sách Nhà Nước đă chi bao nhiêu cho các
thứ xa xỉ của giới quan lại đỏ chóp bu
và đảng của họ!
L̉NG DÂN
Tham vọng của ông
Hồ chí Minh và đệ tử là muốn xóa bỏ
lịch sử và truyền thống dân tộc của
Việt Nam. Hy vọng vài đời sau, các thế
hệ trẻ chẳng c̣n hiểu ǵ về quá khứ mà
cứ tưởng những cái đang có là do công ơn
"bác và đảng". Điều này được
thể hiện qua bài viết về lịch sử Việt
Nam của Trần huy Liệu - Viện trưởng
Viện Sử của chế độ Hồ chí Minh -
rằng "Lịch sử Việt Nam bắt đầu
từ khi có đảng (1930)" và "Hồ chủ
tịch là người sáng lập ra nước Việt
Nam". Chỉ v́ được ông Hồ chí Minh thuận
cho Trần huy Liệu vào Huế giết cha con ông Phạm
Quỳnh, cướp con dâu ông Phạm Quỳnh về làm
thiếp mà cái ông "sẹo đầu sẹo cổ"
này bẻ cong ng̣i bút, cũng như đồng nghiệp
Phạm huy Thông của ông ta và các môn đồ Trần
quốc Vượng, Phan huy Lê, Hà văn Tấn,
đồng tác giả bộ Thông Sử Việt Nam hiện
nay.
Cái láu cá
kiểu hồ ly tinh của ông Hồ chí Minh và cái mặt
trơ trán bóng của mấy "học giảø" coi
thẻ cung cấp đặc biệt là "lư
tưởng" cuộc đời cũng không qua
được ư trời. Bởi ư trời
là ḷng dân.
Dù phủ
nhận, dù cố t́nh phá bỏ, nhưng luật cung cầu
trong kinh tế vẫn tồn tại và phát huy tác dụng
ngoài ư muốn của ông Hồ chí Minh và tay
chân.
Nền kinh
tế có kế hoạch (ngoan cố, duy ư chí) của ông
Hồ chí Minh bị chính tay chân có
nhiều quyền lợi nhất của ông ta phá vỡ.
Nhân dân bị thiếu hàng hóa thiết yếu tạo ra
thị trường "chui" và các gia đ́nh quan
lại đỏ có nhiều đặc quyền
đặc lợi thành thương nhân "lủi". Và bên cạnh kinh tế quốc doanh, có kinh tế
"quốc lủi" ra đời và cái công cụ chuyên
chính của chế độ (công an, quân đội, thuế
vụ...) đă nhiệt t́nh và cổ vũ, dấn thân cho
kinh tế quốc lủi, cho sự hóa thân của quốc
doanh thành quốc lủi, cả thương nghiệp
lẫn thủ công nghiệp.
Cán bộ,
mậu dịch viên của ngành thương nghiệp xă
hội chủ nghĩa, kể cả ở khu vực cung
cấp đặc biệt, phần
lớn làm việc hai mang: một làm cho "quốc
doanh", một làm cho "quốc lủi". Các bà mệnh phụ đỏ lănh đạo
"quốc lủi" trong khi chồng lănh đạo
"quốc doanh". Nổi bật lên là "chị
Tư", phu nhân của phó thủ tướng Nguyễn
duy Trinh, ủy viên bộ chính trị trong dịch vụ
buôn vàng, kim cương, hàng viện trợ (của cả
Đông phương, Tây phương, Liên hiệp Quốc);
vợ phó giám đốc Sở Công an Hà-nội, Lê Nghĩa,
cầm đầu khu chợ trời Chùa Vua; khu mua bán trao
tay ở suốt từ Hàng Đào cho đến Hàng
Giấy, chợ Đồng Xuân ra ô Quan Chưởng, ga
Đầu Cầu... Đặng thị Kỳ, phu nhân
của tướng Văn tiến Dũng th́ buôn các hàng
viện trợ quân sự; bà vợ cả tây lai của
bộ trưởng Hoàng minh Giám th́ mở xưởng
sản xuất đồ nhựa và các ấn phẩm
ở ngay ṭa vi-la trước bệnh viện St. Paul
cũng như đỡ đầu cả về vốn
lẫn "chính trị" (tức là ô dù) cho các hộ
sản xuất chui đồ nhựa; thứ trưởng
Lê Đông của bộ nội thương và giám
đốc Sở thương nghiệp Hà-nội,
Nguyễn trí Tuyển th́ cung cấp cho chợ trời các
mặt hàng quí hiếm, trong vụ này có liên quan đến
cả thường vụ thành ủy Hà-nội. Nguyễn
đức Lạc và bí thư trung
ương đảng Nguyễn văn Trân; dịch vụ
đĩ điếm, thuốc phiện và cờ bạc th́
có bàn tay quản lư của Dương Thông ở cơ quan
an ninh. Thậm chí có nơi h́nh thành cả khu "tứ
khoái" cho cấp trên về kiểm tra và dân "phe
phẩy" có tiền đến hưởng thụ
như ở Hải Hưng do chính bí thư tỉnh ủy
Nguyễn qúy Quỳnh chỉ đạo, hoặc ở
Quảng B́nh do "tiểu vương" là bí thư
tỉnh ủy Nguyễn tư Thoan. Đến nỗi ngành
nghỉ mát cũng bị "quốc lủi" hóa,
như trường hợp vợ chồng một chủ nhà
in lậu (bị chế độ liệt là phản
động) cũng nghỉ hè ở khu cho bộ chính
trị ở Tam Đảo, nằm ngay cạnh pḥng của
Trường Chinh và do Trường Chinh phát hiện!
Trên đây chỉ tạm
nêu lên vài dẫn chứng cụ thể. Chỉ có
thể hiểu rằng hầu hết bọn quan lại
đỏ ở ngành nào đều là "chủ"
của kinh tế "quốc lủi" nơi đó.
Như hiện nay ở miền Nam Việt Nam vậy,
cũng vẫn là quan lại đỏ đầu ngành làm
tṛ vượt rào: Vơ văn Kiệt đỡ đầu
cho Ba Thi; Lâm văn Thê (đă chết) đỡ đầu
cho nhóm Kiên Giang; Nguyễn vĩnh Nghiệp đỡ
đầu cho rể là Tô mạnh Thắng; Cao đăng
Chiếm, Trần Quyết đỡ đầu cho nhóm
Mười Vân, Hai Hiệp ở Đồng Nai; Mai chí
Thọ đỡ đầu cho Triệu bỉnh Thiệt;
Nguyên văn Linh (nguyên tổng bí thư) đỡ
đầu cho công ty hải sản Tây Nam và Việt kiều
Tuyết (đen) buôn xe hơi băi rác ở Mỹ về;
Đỗ Mười đỡ đầu cho Sea Prodex và
ngành lương thực của Nguyễn công Tạn v.v... để các nhóm đó tham ô thoải mái,
cưỡi trên dư luận.
V́ thế,
Tết Nguyên Đán ở Việt Nam (phía Bắc) chỉ vài
năm bị ảnh hưởng phá hoại của Hồ
chí Minh, rồi sau đó luật cung cầu trong kinh tế cũng
như lư tưởng "vinh thân ph́ da" của quan
lại đỏ đă làm cho kinh tế "quốc
lủi" lấn át kinh tế quốc doanh và nó đă
đem lại cho ngày Tết Nguyên Đán dần dần
truyền thống cũ về ăn uống, lễ nghi,
nhưng cái phần tinh thần cao đẹp th́ đă
bị mất. Ngày Tết trở thành ngày phô trương
giàu sang, quyền uy của tầng lớp có nhiều
đặc quyền, đặc lợi. C̣n
đa số nhân dân vẫn là nạn nhân của cả quan
lại đỏ lẫn cá mập "quốc
lủi".
Dù sao đó cũng là
biểu hiện thất bại chua chát của "tư
tưởng Hồ chí Minh" và nhũng mầm chiến
thắng của nhân dân Việt Nam sẽ cùng các mùa xuân
nở rộ.
ÔN CỐ TRI TÂN
Nhớ lại
những mùa xuân đen tối để thấy hết
sự hiểm sâu, tai họa của ông
Hồ chí Minh và tay chân.
Năm nay, chính
quyền cộng sản ở Việt Nam đang mời
chào các Việt Kiều "yêu nước" về ăn
Tết quê hương. Họ o bế Việt
Kiều "yêu nước" c̣n hơn là các thương
binh và con em gia đ́nh liệt sỹ của họ. Tại sao? V́ Việt Kiều "yêu
nước" có ngoại tệ mạnh và là h́nh ảnh
nổi bật của bức tranh "đổi
mới" cũng như "ḥa giải và ḥa hợp",
nhưng ngoại tệ mạnh vẫn là lư do chủ
chốt. Và cái cầu quê hương sẽ giúp giới quan
lại đỏ t́m được từ Việt Kiều
"yêu nước" đường giây "quốc
lủi" để chuyển được các thứ
mà quan lại đỏ đă vơ vét của nhân dân ra
nước ngoài, đề pḥng... cho số phận đen
tối ở trong nước của họ, vừa gửi
ngân hàng, vừa đầu tư ra "nước
ngoài", gây vốn cho quỹ hoạt động lỡ có
ngày "Đảng" phải rút vào bí mật.
Trong con mắt
của những người cộng sản cầm
quyền ở Việt Nam hiện nay, th́ h́nh ảnh của
người Việt Nam nhảy từ bức tranh
"phản động" sang "yêu nước" là
một thủ đoạn chính trị. Và,
đến một lúc nào đó lại từ "yêu
nước" trở về "phản
động". Cần nhớ rằng
đảng cộng sản Việt Nam độc quyền
nắm chính quyền là nguyên nhân chính gây ra cho người
Việt Nam phải bỏ quê hương đi lưu vong
xứ người. Cho nên những
người cộng sản cầm quyền không chỉ
đưa ra chính sách "ḥa hợp, ḥa giải" lúc này
để tạm thời xoa dịu cơn phẫn nộ của
trong nước và ngoài nước về tội ác của
họ. Điều quan trọng là họ
phải tỏ ra trung thực muốn ḥa hợp ḥa giải
v́ quyền lợi của dân tộc và đất
nước Việt Nam. Cho nên biểu hiện thành
thật cụ thể nhất là họ phải làm việc
tự phê b́nh bằng văn bản (như tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ của họ
trong cuốn "Tự chỉ trích" trước 1940)
về các vấn đề kinh tế, ngoại giao, văn
hóa xă hội v.v... qui rơ trách nhiệm, xin
lỗi và phục hồi quyền lợi mọi mặt
những nạn nhân của họ; công bố rơ ngân sách
phải chi cho đảng của họ từ lúc nắm
chính quyền cho đến nay; truy tố những kẻ
gây nhiều tác hại cho nhân dân và đất nước. Không thể chỉ nhận xét lập lờ
nước đôi công tội và "huề cả làng".
Ai đă đi
tù v́ đấu tranh cho dân chủ, tự do cho Việt Nam
ở các trại tù cộng sản đều nhớ
rằng chính quyền cộng sản đă khẳng
định: "Chỉ có thành thật khai báo, thấy
được sai lầm th́ mới có phương
hướng và quyết tâm sửa chữa những sai
lầm đó." Vậy mong rằng
những người cộng sản cầm quyền hăy
"thành thật khai báo" trước nhân dân và công
luận đi. Đấy là biểu
hiện đầu tiên của thái độ thực sự
muốn "đổi mới" và muốn "ḥa
hợp, ḥa giải".
Những người
Việt Nam ở nước ngoài đừng bao giờ quên
gốc. Đừng bao giờ
đánh mất đi niềm tự hào là người
Việt Nam. Đừng bao giờ quên bài
học "hoà hợp ḥa giải" của nhũng
năm 1945 và 1975.
Để mùa xuân làm
sống măi cái Tết truyền thống Việt Nam, vừa
tao nhă, vừa nhân ái. Và mỗi lần
Tết đến, đừng bao giờ quên nhắc
lại những mùa xuân đen tối của dân ta trong tay ông Hồ Chí Minh và đảng của ông
ta. V́, chỉ có: "Ôn cố mới tri tân"
Tháng 12-1992
* Có chỗ đọc là Nhà Thờ,
tức phố Nhà Thờ. Cả hai nơi đều có
cửa hàng cung cấp cho cán bộ trung cao của cộng
sản.
Chuyện thâm cung dưới
triều đại Hồ chí Minh
Việt
Thường
GIẤC NAM KHA KHÉO BẤT B̀NH…
Sau khi các nhóm cộng
sản ở ba miền Bắc, Trung và Nam của Việt
Nam hợp nhất được vài tháng th́ ông Hồ chí
Minh lấy cớ theo lệnh của
đệ tam quốc tế bắt đổi tên
đảng thành "đảng cộng sản Đông
Dương". Có điều đáng lưu ư là trong ban
chấp hành của đảng do Trần Phú làm tổng bí
thư đầu tiên, không hề có mặt một
người nào là Lào hay Cam-bốt. Như thế có nghĩa
là cái đảng cộng sản Đông dương do
Hồ chí Minh sáng lập có nhiệm vụ nhuộm
đỏ cả Lào lẫn Cam-bốt mà chẳng cần có
ư kiến dù chỉ là một người của
nước Lào hoặc Cam-bốt.
Thực
dân Pháp đă xâm lăng ba nước Việt Nam, Lào và
Cam-bốt, xóa sổ ba nước có truyền thống
văn hóa và lịch sử c̣n lâu đời hơn của
nước Pháp trên bản đồ thế giới;
đổi thành Đông Dương thuộc Pháp, chia thành
năm xứ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và
Miên. Tất cả đều dưới quyền cai trị của một viên toàn quyền
Đông Dương với các chức sắc kế cận
là thống sứ và công sứ ngưới Pháp, song song là
hệ thống vua quan người bản xứ.
Chẳng
phải suy diễn, mà chính từ cái tên đảng cộng
sản Đông Dương với toàn bộ ban chấp hành
là người Việt Nam cũng nói lên tham vọng của
người sáng lập ra nó là Hồ chí Minh - có tên Nga là Line
- muốn sau khi lật đổ chính quyền thực dân
Pháp ở Đông Dương, th́, cái "ngôi" toàn
quyền sẽ là chỗ của Hồ chí Minh, các thống
sứ và công sứ sẽ là các ủy viên ban chấp hành
trung ương đảng cộng sản Đông
Dương. Đương nhiên sẽ phải có các
chức sắc bù nh́n song hành là người bản xứ.
Và, cái "Liên bang Đông Dương đỏ"
này có mẫu quốc là Nga-xô, v́ kẻ đứng
đầu nó là Line (tức Hồ chí Minh), một
người Nga gốc Việt, mọi mục tiêu, mọi
hành động đều v́ quyền lợi của
nước Nga-xô.
Không
chỉ là người hoạch định đường
lối, Hồ chí Minh c̣n đích thân bôn ba, lặn lội
khắp vùng biên giới của Việt Nam cũng như Lào
và Cam-bốt để chọn người, tổ chức
và đào tạo các nhân sự trung kiên cho bộ máy cai
trị của Liên Bang Đông Dương đỏ sau này.
Kể
từ ngày đảng Cộng sản Đông Dương
được khai sinh (1930) cho đến ngày thở
hắt ra, nằm đấy cho các chuyên gia Nga-xô moi óc, moi
hết ruột gan, ướp xác (9-1969), gần cả
bốn chục năm trời, Line (tức Hồ chí Minh)
chỉ thực hiện được không trọn vẹn
một phần năm tham vọng của ḿnh: nằm
tại phủ toàn quyền Đông Dương chỉ
để cai trị "xứ Bắc Kỳ" và thêm vài
tỉnh của "xứ Trung Kỳ".
Trước
năm 1945, Line (tức Hồ chí Minh) đă tự bấm
số tử vi cho ḿnh và đoán đúng
là thành công vào lúc 55 tuổi (tức 1945) (xem "Những
năm tháng không thể nào quên" của Vơ nguyên Giáp). Vào giữa những năm của thập niên 1960,
Line (tức Hồ chí Minh) lại xoay qua nghề của
Tả Ao (thầy địa lư). Ông
thường mượn cớ đi "kinh lư"
khắp nơi để t́m đất thiêng. Cái mảnh đất lư tưởng đó của
ông là vùng Ba V́ (xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, nay nhập
thành một huyện của Hà-nội). Ông đă lén
chôn tất cả những cái răng bị rụng của
ông ở đó, hi vọng nó sẽ bột phát cho ông
được làm "Hoàng đế Đông
Dương" dù chỉ một ngày... trước khi... " đi thăm Các-Mác và Lê-nin".
Bàn tay Line (Hồ chí Minh) đă vấy đỏ
máu người mà có dùng hết nước biển Đông
cũng không rửa sạch được. Không chỉ
giết "kẻ thù", tay ông c̣n vấy máu của các
đồng chí của ông, của dân tộc đồng bào
với ông, của những người mà ông chịu ơn
cưu mang khi hoạn nạn (như bà Nguyễn thị Năm,
chủ đồn điền Đồng Bẩm, Thái
Nguyên; như kỹ sư nông học Đào đ́nh Quang,
chủ đồn điền Đào Giă, Phú Thọ; như
chánh tổng Vạn Phúc, Hà Đông v.v...). Ấy vậy mà
Line (tức HCM) sợ chết, ông không dám nói đến
chữ "chết", cái tiến triển tất
yếu của đời người mà chỉ nói là đi
"thăm"... nghĩa là đi vắng vài
buổi, hoặc vài tháng, hoặc vài năm... để
trở về sẽ thấy "mấy cái răng"
của ông nhờ táng được vào đất thiêng
đă "bột phát" cho ông thành "hoàng
đế" hoặc "chủ tịch vĩ
đại" của toàn khối Đông Dương.
Buồn thay, tất cả vẫn chỉ là giấc mơ.
Giờ đây, Line (tức HCM) nhắm mắt nằm trong
lăng, ch́nh ́nh ở giữa Hà-nội, ông không thể
thấy được cái mộng "Liên Bang Đông
Dương" của ông đang là một hiện
thực thảm hại. Phải chăng cái ngày đi kinh lư
vùng Ba V́, khi lén chôn mấy cái răng sâu của ḿnh, Hồ
bấm theo giờ đổi mới của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, có sai với giờ
thời cụ Tả Ao nên nó không linh nghiệm, hoặc
giả v́ những chiếc răng ấy ăn quá nhiều
thai nhi ngâm mật ong gốc Hà Giang nên nó phát ngược
lại?
Kế
hoạch cấy người của Line (tức HCM) rất
tinh vi. Thử lược lại
những nét lớn th́ thấy:
ĐỐI VỚI LÀO
Nước Lào cộng
sản có hai nhân vật quan trọng nhất, đó là
Tổng bí thư Lào cộng, Cay-Xon Phôm-Vi-Hản và hoàng thân
Xu-Va-Na Phu-Vông, chủ tịch nước, ủy viên bộ
chính trị Lào cộng. Chẳng ai có thể
ngờ rằng ông Cay-Xon Phôm-Vi-Hản chính là một
người Việt Nam, quê ở Tự Sơn (Bắc
Ninh). Tên thật là Xông, làm cai
lục lộ, được giác ngộ và gia nhập
đảng cộng sản Đông Dương. Cai Xông sau
vào làm việc ở Nha Trang và đi Lào. Chính ở đây,
Cai Xông đă gặp kỹ sư công chính Xu-Va-Na Phu-Vông, và theo lệnh của Line (tức HCM) đă móc
nối và kết nạp ông hoàng Xu-Va-Na Phu-Vông vào
đảng công sản. Để nắm chặt
được ông hoàng người Lào này, người
của ông Line (tức HCM) không chỉ kích động cái cảnh
con vợ cả, nàng hầu của ông hoàng Xu-Va-Na Phu-Vông và
ông hoàng Xu-va-na Phu-ma; bằng cách vạch cho ông hoàng Xu-va-na
Phu-vông con đường duy nhất để chiếm
quyền của ông Phu-Ma là phải đi theo cộng
sản, mà c̣n cột ông Xu-Va-Na Phu-vông vào một cô gái
Việt Nam, gốc Nha Trang, sau trở thành vợ của ông
ta.
Trong những năm
chiến tranh, người của Line (tức HCM), tất
nhiên là người Việt Nam chính hiệu, đă sang Lào
điều hành toàn bộ guồng máy công an, quân đội,
thương nghiệp, giao thông vận tải và bưu
điện truyền thanh.
Cai Xông lấy vợ
Lào, đổi tên thành Cay-Xon Phôm-Vi-Hản, nhưng
trước 1975, vẫn ở tại ṭa vi-la ở phố
Nguyễn gia Thiều (Hà Nội) kế bên cố vấn tối
cao của ông ta là thiếu tướng Nguyễn trọng
Vĩnh, ủy viên dự khuyết trung ương cộng
đảng kiêm ủy viên quân ủy trung ương.
Hiệp định Genève
về Lào, Hoàng văn Hoan, ủy viên bộ chính trị
cộng đảng được Line (tức HCM) giao cho
làm cố vấn tối cao của đoàn Việt Nam,
nhưng thật ra cũng đồng thời là cố
vấn tối cao cho đoàn Lào cộng.
Để ve vuốt ông
hoàng Phu-Ma, Line (tức HCM) cho mở tại Hà-nội hai ṭa
đại sứ, một của Vương Quốc Lào,
một của Lào Cộng. Ṭa đại sứ Vương
Quốc Lào là một biệt thự nguy nga thuộc
loại hiếm của Hà-nội, tọa lạc ở
đại lộ Quang Trung. Cơ quan an
ninh của Hà-nội đă cài được hai cô gái
Việt Nam lấy chồng là nhân viên của sứ quán
Vương Quốc Lào. Cô H., gốc Việt kiều ở
Thái Lan về Bắc Việt Nam, sau có vẻ lơ là
với nhiệm vụ, theo chồng đi nước khác;
chỉ c̣n cô Lê Thị N. vẫn c̣n sáng giá, nhờ đó các
em trai dù mắc các tội chứa điếm, ăn
cắp, buôn lậu Bắc-Nam, vẫn được vô
tội. Chẳng thế, một người c̣n
được cho vượt biên sang Úc, c̣n đứa em
trai út được làm trong ngành điện ảnh có
nhiều liên hệ với ṭa lănh sự Pháp ở Sài-g̣n
hiện nay và cũng là một trùm "mánh mung, buôn
lậu", hay gần gũi cả giới văn nghệ
sỹ lẫn dân "phe phẩy", có tên là Lê đ́nh Th.,
một mú của Dương Thông.
ĐỐI VỚI CAM BỐT
Lợi dụng bệnh
chính trị thất thường của ông hoàng Xi-Ha-Núc
của Cam-Bốt, Line (tức HCM) trong thời kỳ cho
quân vào xâm lăng miền Nam, đă tận dụng vùng
đất Mỏ Vẹt của Cam-Bốt, làm khu an toàn cho
nơi tập kết quân đội và vũ khí mỗi khi
khó khăn, c̣n dùng nơi đó làm căn cứ tập trung
và đào tạo sơ khởi cho những người dân
Cam-Bốt, tạo thành đạo quân thứ năm cho chính
quyền của ông Line ở Cam-Bốt. Hầu hết các
nhân vật chóp bu của cộng sản của Cam-Bốt
đều được guồng máy của Line lựa
chọn và đào tạo bằng cách này hay cách khác. Hênh
Som-Rin và Hun-Sen đều được ăn
học tại Hà-nội. Và, ngay Pôn-Pốt cũng chính là do tay chân của ông Line tuyển chọn. Tên thật Pôn-Pốt là Hai Nghĩa, vốn là
người Việt gốc Miên ở Sa-Đéc.
Nghĩ rằng cái nguồn gốc đó có thể cột
chặt được Pôn-Pốt với chính quyền
của Line ở Hà-nội, nào hay ông Mao Trạch Đông
lại hiểm hơn, múa lại bài vơ của ông Line
với hoàng thân Xu-Va-Na Phu-Vông, cài cho Pôn-Pốt (tức Hai
Nghĩa) lấy cô vợ Tàu. Trong canh bạc này Line bị
Mao phổng tay trên mất ù. Và, hậu
quả như chúng ta đă biết.
Ve văn hoàng thân Xi-Ha-Núc
của Cam-Bốt cũng như ông hoàng Phu-Ma của Lào
bằng cách đẻ ra cái hội nghị "Ba
nước Đông Dương" với tấm ảnh
màu chụp cảnh Phạm văn Đồng, Nguyễn
hữu Thọ (tượng trưng cho Nam Việt Nam),
Xi-Ha-Núc, Xu-Va-Na Phu-Ma và Xu-Va-Na Phu-Vông trên trang b́a báo Ảnh
Việt Nam, Line hỉ hả ngồi ở phủ toàn
quyền Đông Dương ở Hà-nội tưởng
như nắm chắc cái ngai "chủ tịch vĩ
đại" của Liên Bang Đông Dương
đỏ. Nào ngờ... Mà, nào ngờ thật, bởi Line
đă mau chóng quên canh bạc ở ngay chính miền Nam
Việt Nam ông đă tưởng như ăn chắc trong
chuyến đi đêm với anh em nhà ông Ngô Đ́nh
Diệm, tổng thống nền đệ nhất
cộng ḥa của miền Nam Việt Nam. Chỉ có
người dân đen ở Hà-nội là tỉnh táo khi
mượn kiểu thơ Bút Tre để nói rằng:
"Hoan hô
quốc trưởng Xi-Ha
Núc na. núc ních sang Ta sang Tàu
Sang Ta rồi lại sang Tàu
Núc na núc ních theo Tàu bỏ Ta."
và :
"Hai Nghĩa cũng như con
nhện
Lấy vợ Tàu quyến quyện bỏ đi
Ṭ ṿ Hồ ngồi khóc tỷ ty
Pôn-Pốt ơi! Pôn-Pốt hỡi! Mày
đi đằng nào?"
CANH BẠC
VỚI HỌ NGÔ
Những trí thức
ở Bắc Việt Nam (trước 1975) dám làm cái việc
như cụ Tả Ao ngày xưa là mở một mắt
nh́n vào sự thật đề pḥng có mù th́ mù một
mắt, đă thấy từ lâu mối quan hệ của
cái thế "môi sứt và răng hô" giữa Bắc
Việt Nam và Trung Cộng. Chỉ có giới chức
cầm quyền cộng sản Việt Nam, sau sự
cố 1979 "hàm răng vẩu Trung Cộng cắn
chảy máu cái môi sứt của Thị Nở Việt
Cộng" th́ Nguyễn duy Trinh, ủy viên bộ chính
trị cộng đảng, phụ trách phó thủ
tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao mới
chua chát nói đến bị anh hai Trung Cộng ức
hiếp trong một phần tư thế kỷ của
mối t́nh "vừa là đồng chí vừa là anh
em". Cuốn sách của Nguyễn duy Trinh tố cáo Trung
Cộng đă đạp "thắng gấp" hăm đà
"thừa thắng xông lên" của quân đội
tướng Giáp nhằm "giải phóng" hoàn toàn
Việt Nam khỏi tay thực dân Pháp chuyển giao cho
thực dân đỏ mà Line là người đại
diện. Cho nên mới đẻ ra cái giải
pháp chính trị trong hiệp định Genève năm 1954
về Việt Nam. Thế là thắng
trận trên chiến trường nhưng lại thua
trận trên b́nh diện chính trị. Bởi, năm
1945 - lúc 55 tuổi – Line được là chủ tịch
của cả nước Việt Nam - từ địa
đầu Hà-giang cho đến mũi Cà-mâu - thế mà sau 9
năm lừa dân tiêu thổ, trường kỳ kháng
chiến, Line chỉ c̣n là chủ tịch của Việt
Nam, cái phần "khúc đầu những xương cùng
xẩu" và tư chút "khúc giữa những máu cùng me".
C̣n khúc đuôi miền Nam, chỗ ngon lành nhất th́ đành
phải nghiến răng "tha hồ mà
đuổi".
Cùng thời điểm
xuất phát từ 1954, khi Line mang theo
bầu đoàn nhếch nhác từ Việt Bắc về
Hà-nội th́ anh em ông Ngô Đ́nh Diệm về Sài-g̣n. Qui
định của hiệp định Genève 1954 là sau 2
năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất
ở cả nước Việt Nam... để
người dân Việt Nam được tự do
lựa chọn chế độ chính trị và
người đại diện của ḿnh. Nhưng, năm
tháng cứ đi qua, cho đến tận cuối năm
1992 này, gần 40 năm sau cái ngày qui định trong
hiệp định Genève 1954 về Việt Nam ấy, hai
chữ tự do vẫn là cái ǵ đó xa vời vợi
với người dân Việt Nam. V́ sao
vậy? Bởi v́, từ khi được quyền
quản lư tạm thời một nửa nước
Việt Nam từ vĩ tuyến 17 ra phía Bắc, Line và tay
chân thân tín đă "đào tận gốc, trốc tận
rễ" tất cả mọi giai tầng của xă
hội Bắc Việt Nam, để "trồng những
con người mới xă hội chủ nghĩa" chỉ
biết phá hoại mà không biết xây dựng; chỉ
biết căm thù mà không biết yêu thương; chỉ
biết giết mà không biết nuôi dưỡng; chỉ
biết nhất cử nhất động là nhằm
bảo vệ "Liên xô, thành tŕ cách mạng thế
giới" chứ không phải là bảo vệ
đất đai và dân tộc Việt Nam với trên
bốn ngàn năm văn hiến. Cho nên cả miền
Bắc Việt Nam trở thành một nhà tù lớn, một
trại lính vĩ đại. Sợ hăi, đói khổ, phát triển thú tính là
những nét đặc trưng của xă hội miền
Bắc Việt Nam lúc ấy. Trong lúc
đó, cái khoảng thời gian của 1955-1959 lại là giai
đoạn thịnh trị của miền Nam Việt Nam
dưới nền đệ nhất cộng ḥa mà tổng
thống là ông Ngô Đ́nh Diệm. V́ thế, Line không
muốn và cũng không thể thực hiện
được điều khoản tổng tuyển
cử tự do trong cả nước. Với sự mách
nước của phó vương Lavritchev, đại
sứ đặc mệnh toàn quyền của Nga-xô ở
Hà-nội; Line cho khai tử cái gọi là Mặt Trận Liên
Việt, thay bằng Mặt Trận Tổ Quốc với
một cương lĩnh mới mà nội dung là các
điều khoản áp đặt cho miền Nam Việt Nam
bị nhập vào với miền Bắc Việt Nam,
dưới quyền cai trị của Line, nghĩa là
đưa đến cái thế không thể có tổng
tuyển cử.
CHỈ MỘT BƯỚC TỪ CÁI
VĨ ĐẠI ĐẾN CÁI LỐ BỊCH
Câu nói trên của Napoléon vào lúc tụt
dốc cũng đúng với ông Ngô Đ́nh Diệm. Cho
đến năm 1959, quả rằng ông Ngô Đ́nh Diệm
đă thổi vào miền Nam Việt Nam một luồng sinh
khí mới mà ngay kẻ thù của ông cũng không thể
phủ nhận được. Miền
Nam Việt Nam thay da đổi thịt. Các
nguồn lợi kinh tế đă có phần của
người Việt Nam, không c̣n là sự độc
quyền của chú Hỏa với đồng bào của chú
ta nữa. Nạn cát cứ giáo phái
được dẹp yên. Đời sống của
người dân miền Nam Việt Nam, dưới sự
lănh đạo của ông Ngô Đ́nh Diệm đi theo
chiều tích cực trên mọi b́nh diện, hoàn toàn
ngược với xă hội miền Bắc Việt Nam do
Line thao túng. Tiếc rằng cái thời vàng son của
miền Nam không được bao lâu đă chết yểu
v́ cơ chế độc tài, đảng trị, gia
đ́nh trị của ông Ngô Đ́nh Diệm càng về sau
càng phát triển mạnh trên cơ sở của sự
thỏa măn và tính tự cao về thành tích sơ khởi
đạt được.
Trong khi đó, với cái
dă tâm làm "chủ tịch vĩ đại" của
cả Liên Bang Đông Dương, Line cho tập kết
lực lượng thân cộng từ miền Nam ra
miền Bắc như hiệp định Genève 1954 về
Việt Nam qui định, nhưng vẫn để
lại một lực lượng mạnh cả quân
đội lẫn tổ chức đảng. Số lính
chính qui và địa phương quân cùng du kích có tổng
số hơn bốn trăm ngàn người. Giới lănh
đạo của xứ ủy miền Nam chỉ có Lê
Duẩn và Phạm Hùng ra Bắc, c̣n lại nguyên bộ
xậu ban lănh đạo của cộng đảng
gồm các ủy viên trung ương chính thức như
Nguyễn văn Linh (Mười Cúc), Nguyễn văn Xô (Hai
Xô), Phan văn Đáng (Hai Văn), cùng với Nguyễn
đức Thuận (sau bị chính quyền của ông
Diệm bắt được), Vơ chí Công, Cao đăng
Chiếm, La văn Liếm, Trần nam Trung, Trần
bạch Đằng đều rút vào bí mật. Và, ngay
từ đầu những năm 1957 trở đi Line
đă cho lệnh t́m đường vào Nam, đó là đường
ṃn Hồ chí Minh sau này. Toán quân đội được
lệnh thâm nhập miền Nam đầu tiên do thiếu
tướng Bùi xuân Đăng chỉ huy. Con
đường ṃn Hồ chí Minh được hoàn tất
vào năm 1959 và Đồng sỹ Nguyên (tức Nguyễn
văn Đổng) được cử trông coi việc
"hiện đại" hóa con đường trục
để xâm lăng miền Nam đó. Cơ
cấu quân đội dưới trướng Đồng
sỹ Nguyên lên tới gần 3 sư đoàn và
được đặt tên là "Công trường
59" (tức quân đoàn).
Cái sáng suốt và nhiệt
t́nh của nhà ái quốc Ngô Đ́nh Diệm theo thời gian
mà bốc hơi, chỉ c̣n lại cái h́nh hài của quan
"Tuần vũ Phan Thiết", vừa cố chấp
của người "quá mộ đạo", vừa
hợm hĩnh về gịng họ và thành tích, chỉ tin vào
quan hệ máu thịt và địa phương cũng
như cùng tôn giáo. Cái sai lầm nữa là ông Ngô Đ́nh
Diệm dựng ra đảng Cần-Lao Nhân-Vị có cái ǵ
đó hao hao giống cơ chế tổ chức và xử
dụng như của đảng cộng sản. Tổng
Thống họ Ngô đă không lợi dụng thành tích
đạt được để mở rộng dân
chủ, thu hút nhân tài của đất
nước v.v... mà lại khép lại
như mô h́nh cộng sản nhưng lại không đủ
qủy quyệt tàn nhẫn như cộng sản. Đáng
ra phải đặt cho ḿnh làm cái nhiệm vụ lănh
tụ của cả nước Việt Nam (như Line) th́
ông Diệm đă lược bớt đi chỉ giành
lại cho ḿnh những cái rất "khiêm tốn" là
lănh tụ của giáo dân, là một thứ "tù
trưởng" của "bộ lạc Ngô,
Trần". Chính sách đối ngoại của ông
Diệm có nhiều sai lầm khi làm mất t́nh ḥa hiếu
với ông hoàng Xi-Ha-Núc, khiến Hà-nội lợi dụng
để dùng mảnh đất Mỏ Vẹt của
Cam-Bốt cũng như cảng Kôm-Pông-Xôm của
Cam-Bốt để xâm lăng miền Nam. Cũng
thế, ông không công nhận Hội nghị Băng-Đung,
khiến bị cô lập đối với các nước
không liên kết, mà lúc đó những tiếng nói của
Nerhu và Nasser là khá quan trọng. Xung quanh ông Diệm có
rất nhiều người giỏi, nhưng ông không dùng,
thí dụ như ông Nguyễn Văn Thoại, người
đă kư vào quyết nghị của hội nghị
Băng-Đung, một hành động rất khôn ngoan và
sáng suốt. Qua việc này, ông Line đă
hiểu hết chỗ "yếu kém" của
đối thủ và quyết định đánh canh
bạc với họ Ngô. Một tổ công tác
đặc biệt được thành lập ngay tại
Hà-nội để làm công việc đó mà không cần qua
bộ phận của Nguyễn văn Linh ở phía Nam.
LỰA NGƯỜI
Sau khi dự hội nghị
Băng-Đung về, Line mừng v́ chết hụt. Chiếc máy
bay của Trung Cộng bị nổ tung,
vài nhân viên ngoại giao Việt Cộng chết theo, trong
đó không có... Line. Nhưng,
điều ông mừng hơn là nghe tin ông Ngô Đ́nh
Diệm không chấp nhận quyết nghị của
hội nghị Băng-Đung mà đại diện của
ông là ông Nguyễn văn Thoại đă kư. Hơn thế, ông Diệm c̣n cải tổ chính
phủ và... gạt ông Nguyễn văn Thoại ra.
Ngồi ở phủ toàn quyền ở Ba-Đ́nh, khi nghe
Việt Phương, vụ trưởng vụ tổng
hợp Phủ thủ tướng, cũng là thư kư riêng
của Phạm văn Đồng, tŕnh tin này, Line vỗ
đùi đen đét và ngửa mặt lên trời
cười ba tiếng, hệt như Lưu Bang nghe tin
Hạng Vơ đuổi Phạm Tăng không dùng nữa.
Hồ sơ về gia đ́nh ông Ngô
Đ́nh Diệm dày cộm trên bàn làm việc của ông. Biết
tỷ mỷ từ việc ông Diệm "nghiện"
món chim bồ câu nhồi yến, đến ông Ngô Đ́nh
Nhu mỗi ngày "bắn khỉ" bao nhiêu phát (tức
hút thuốc phiện) và bà Nhu (tức Trần Lệ Xuân)
chọn đất ở đường Trần quốc
Toản (nay là ủy ban quận 10, Sài-g̣n) xây "cung"
cho Ngô Đ́nh Trác, có ư định quay lại chế
độ quân chủ (chắc là bắt chước
tướng Franco của Tây ban Nha). Line
cũng để ư đến việc viên sỹ quan CIA
Conéin, đă từng ở quân đội Pháp, có mặt
tại Sài-g̣n. Sự bất măn của
Phật Giáo được ông để ư đến
từ lâu. Song song với việc đào tạo bộ
đội đặc công (ở Sơn Tây), công an
đặc biệt (ở Hà-Đông), cán bộ người
thiểu số (ở Ḥa-B́nh), các sư, tiểu, ni cô
(ở chùa Quán Sứ, Hà-Nội) và lấy cán bộ tập
kết ở Nam ra cho học tập và quay lại Nam
(địa điểm học tập ở Bắc-Thái),
ông Line c̣n lo đào tạo "thế hệ tương
lai" cho Liên Bang Đông Dương đỏ: đó là các
thiếu niên, nhi đồng của miền Nam, của khu Năm,
của núi rừng Tây Nguyên, của Lào, của Miên. Trường này đặt ở huyện
Lương sơn (Ḥa B́nh). Bên cạnh ủy ban
Thống Nhất do trung tướng Nguyễn văn
Vịnh, ủy viên trung ương cộng đảng, làm
chủ nhiệm, phía ban tổ chức trung ương c̣n có
Lê phước Thọ đặc trách số cán bộ
tập kết quay lại Nam (nay ông ta là ủy viên bộ
chính trị, phụ trách tổ chức). Đấy
là công việc hàng ngày của đảng và chính phủ
ở Hà-nội. Giờ đây đă khác tư chút, đó
là việc ông Ngô Đ́nh Diệm từ chỗ
được tổng thống Eisenhower ra tận phi
trường quân sự Andrews đón tiếp (1957) đến
chỗ đôi bên đă có dấu hiệu ngúng nguẩy
với nhau và quân đội do đại tá Nguyễn Chánh
Thi cầm đầu làm đảo chánh ngày 11-11-1960. Tuy
không thành công, nhưng rơ ràng đó là điểm báo hiệu
chỗ dựa quân sự và chỗ dựa đồng minh
đă "lung lay". Nay chỉ cần làm cho
những chỗ dựa đó đổ hẳn là xong.
Điểm lại nhân sự, ông Line thấy việc này
phải giao cho Phạm Hùng, người có đủ tư
cách tiếp xúc trực tiếp với anh em ông Ngô Đ́nh
Diệm, có hiểu biết sâu sắc về miền Nam, v́
Phạm Hùng đă từng phụ trách công an của miền
Nam, là ủy viên bộ chính trị kiêm phó thủ
tướng thứ nhất của chính phủ (với 9
ông phó thủ tướng!). Nhưng c̣n người thứ
hai là ai, người giúp việc trực tiếp cho
Phạm Hùng mà cũng là người làm cái việc móc
nối trong chuyến "đi đêm" này. Tất nhiên
phải là người có khả năng đă đành mà c̣n
phải tín cẩn được đến mức
giả dụ là bị anh em ông Diệm, Nhu trở mặt
bắt th́... sẵn sàng chết mà không phản bội
hoặc đi hai hàng. Điểm lại tất cả các
bộ mặt lănh đạo ngành công an
và Line cầm bút nắn nót viết ba tiếng: Nguyễn
công Tài.
SAO LẠI CHỌN NGUYỄN CÔNG TÀI
Line biết rằng anh
em ông Diệm, Nhu tuy làm cuộc phế truất Bảo
Đại, nghĩa là "phản thực" rồi
lại "phản phong", nhưng từ máu thịt
của gia đ́nh họ Ngô là quan lại, cho nên anh em ông ta
rất khinh người. V́ thế, cái kẻ
làm việc xúc tiếp đầu tiên - tất nhiên phải
cộng sản đỏ quạch - nhưng phải có tŕnh
độ (nghĩa là nói tiếng Pháp trôi chảy) lại
phải có cái gốc gác gia đ́nh đáng v́ nể trong xă
hội phong kiến cũ ở Việt Nam. Chính Nguyễn công Tài là người hội
đủ bấy nhiêu yếu tố.
Nguyễn công Tài đă
học đến bậc tú tài thời Pháp, là con
trưởng của nhà văn Nguyễn công Hoan, là cháu
ruột của Lê văn Lương, thường trực
ban bí thư trung ương đảng cộng, phó ban
thường trực ban tổ chức trung ương,
gịng dơi quan lại gốc Nam Định. Đă thế,
Nguyễn công Tài c̣n là con rể của bác sỹ Nguyễn
viêm Hải, có quốc tịch Pháp. Vợ Nguyễn
công Tài là bà Nguyễn thị Nghĩa, cựu sinh
trường nữ học Đồng Khánh lúc ấy
đang là hiệu trưởng trường Mầm Non
(trường dành cho con nhỏ của các quan lại
đỏ của trung ương và Hà-nội, chiếm
trọn hai ṭa vi-la đồ sộ ở phố Hàng Bông
Nhuộm). Hai em gái bà Nghĩa đều đỗ tú
tài Pháp, là học sinh của trường Albert Sarraut, lúc
ấy một ra bác sỹ y khoa, c̣n một là kỹ sư
mỏ. Nguyễn công Tài đang đeo lon đại tá an
ninh bên bộ công an, giữ chức thứ trưởng
bộ công an kiêm ủy viên đảng đoàn cộng
sản của bộ công an. Cả chức vụ, nghề
nghiệp cho đến lư lịch bản thân và lư lịch
bên vợ của Nguyễn công Tài đều là mẫu lư
tưởng cho cuộc tiếp xúc với anh em ông Ngô
Đ́nh Diệm.
Và, sau đó người
nào có óc quan sát không c̣n thấy hàng ngày ít ra là một lần,
trên đường Hàng Bông Nhuộm quẹo ra phố Dă
Tượng (Hà-nội) không c̣n bóng dáng của một
người đàn ông tầm thước, ăn mặc
xuề x̣a, đeo cặp kính dầy cộm hoặc đi
bộ, hoặc đi xe đạp qua nữa. Người đó là Nguyễn công Tài. Trên
phố Bông Nhuộm có nhà riêng của nhà văn Nguyễn
Công Hoan, tác giả truyện "Cô giáo Minh" mà cũng là
tác giả tiểu thuyết bị Hà-nội cấm:
"Đống rác cũ", và ở đó cũng là
nơi làm việc của vợ Nguyễn công Tài.
NGUYỄN CÔNG TÀI RA TAY
Có chú ruột là phó ban
tổ chức trung ương phụ trách thường
trực ban bí thư trung ương đỡ đầu,
lại được đích thân ông Line lựa chọn,
lại làm việc dưới quyền trực tiếp
của Phạm Hùng, nhân vật số 4 trong bộ chính
trị, nên Nguyễn công Tài hiểu rằng đây là
thời cơ "ngàn năm một thuở" để
thăng quan nhảy vọt nếu hoàn thành nhiệm vụ
đi đêm này. Nguyễn công Tài đă dành
nhiều thời gian để nghiên cứu hàng núi hồ
sơ về gia đ́nh nhà ông Ngô Đ́nh Diệm và những
người kế cận, cũng như những người
đối lập. Tài liệu cập
nhật từ nhiều nguồn, nhưng phần đóng
góp của nội gián Phạm ngọc Thảo là rất quan
trọng. Làm sao phải chọn
người tiếp xúc thật đúng mà lại bảo
toàn bí mật. Cuối cùng, sau nhiều ngày đêm suy
nghĩ, Nguyễn công Tài đă lựa nhân vật Mă Tuyên,
người Tàu ở Chợ-lớn đang làm công việc
kinh tài cho gia đ́nh ông Ngô Đ́nh Diệm.
Thông qua
dịch vụ buôn bán táo bạo, Nguyễn công Tài đă
tiếp xúc trực tiếp được với Mă Tuyên.
Và, cái thời điểm để đưa ư kiến cho
Mă Tuyên "gợi ư" với anh em ông Ngô Đ́nh Diệm
là sau tháng 2-1962, sau cái ngày mà hai trung uư của quân đội
ông Diệm là Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử
ném bom dinh Độc Lập làm đảo chính. Sự
việc của hai trung uư Phạm Phú Quốc và Nguyễn
Văn Cử tuy không thành công nhưng nó lại là lư do
hợp thời để Nguyễn Công Tài làm cuộc
tiếp xúc với anh em ông Diệm, Nhu thông qua thương
gia người Tàu ở Chợ-lớn là Mă Tuyên. Tín hiệu có thuận lợi. Quả
nhiên ông Nhu nhận sự tiếp xúc một cách thận
trọng và kéo dài thời gian để mặc cả cho cái
giá đi đêm. Nguyễn công Tài có nhận xét là anh em
ông Diệm, Nhu tuy học ở Pháp và Mỹ về nhưng
óc bài ngoại cực đoan như "Tự
Đức" và cũng có mộng Việt Nam sẽ
gồm cả Miên và Lào và phải là cường quốc
ở châu Á.
Sự
việc tin đi mối lại chỉ dừng ở
đó. Phải cho đến lúc được phép
của ông Line, Nguyễn công Tài cung cấp cho ông Nhu một
số tài liệu chứng minh người Mỹ muốn
lưu lại ông Diệm c̣n vợ chồng ông Nhu phải
đi lưu vong nước ngoài, cũng như họ
trước sau cũng buộc ông Diệm phải từ
bỏ chế độ độc tài, gia đ́nh trị,
phải chia quyền lănh đạo cho các đảng phái
cũng như phải có chính sách b́nh đẳng tôn giáo. Ông Nhu chấp nhận một cuộc gặp
gỡ với phái viên đặc biệt của ông Line.
Có thể đây chỉ là giải pháp pḥng
ngừa mà cũng có thể ông Nhu muốn hiểu rơ hơn
ư đồ của địch. Những điều
này c̣n là bí ẩn đi theo ông Nhu
xuống tuyền đài.
Phạm Hùng nhận
những chỉ thị toàn quyền hành động từ
ông Line tại phủ toàn quyền Đông Dương ở
Ba-Đ́nh (Hà-nội) và cấp tốc đi Nam bằng
cả ba thứ phương tiện: thủy, bộ và hàng
không.
Đầu tháng 2-1963,
cuộc họp "bí mật" giữa ông Ngô Đ́nh Nhu
và Phạm Hùng diễn ra tại một địa
điểm kín đáo ở quận Tánh Linh, tỉnh B́nh Tuy.
Trong cuộc họp này có cả Nguyễn công
Tài cũng được dự. Khi chia tay,
cả hai bên đều hỷ hả. Nội dung cuộc
họp vẫn c̣n nằm trong bí mật cho đến nay. Anh em ông Diệm, Nhu đều đă chết.
Line th́ nằm nhắm mắt ch́nh ́nh trong cái lăng ở
Hà-nội; Phạm Hùng sau này giữ chức chủ tịch
hội đồng bộ trưởng của nước
Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong
một cuộc họp về tài chính hết sức căng
thẳng ở Sài-g̣n, khi về nhà khách của chính phủ
nghỉ trưa đă... chết. Chỉ sau này, qua mặt
báo Sài-g̣n Giải-phóng cộng với chuyện thâm cung
lộ ra, người ta biết rằng buổi trưa hôm
đó, Phạm Hùng đă cho gọi một nữ ca sỹ
cải lương tên tuổi đến nghe hát... giải
khuây. Chẳng biết có làm ǵ nữa không mà
đột ngột... cưỡi ngựa (không phải
rồng) xuống địa ngục. Dân Việt Nam
quốc nội lại thắc mắc qua thơ kiểu Bút
Tre, rằng:
"Nghe tin đồng chí Phạm
Hùng
Chết ngă lăn đùng, chưa
rơ nguyên nhân."
Người duy nhất
c̣n lại là Nguyễn công Tài, sau này "t́nh cờ" làm
cái việc xét căn cước, cảnh sát của
miền Nam đă bắt được Nguyễn công Tài.
Người Mỹ đă cho giam Nguyễn Công Tài ở
Bạch Đằng (Sài-g̣n), cho hưởng mọi tiện
nghi vật chất rất cao và cũng được
ngồi xe hơi (tất nhiên có bảo vệ) đi
"tham quan" phố xá Sài-g̣n. Đến
1975, trước khi đứt phim miền Nam, Mỹ đă
thả Nguyễn công Tài ra.
ĐỊNH MỆNH
Trước khi bước vào cuộc
gặp mặt lần thứ hai giữa ông Ngô Đ́nh Nhu và
Phạm Hùng th́ xảy ra sự biến của Phật Giáo. Trong lễ
Phật Đản năm 1963 ở chùa Từ Đàm,
thượng tọa Thích Trí Quang phê b́nh chính quyền ông
Diệm kỳ thị Phật Giáo cho nên đài phát thanh Huế
không phát thanh về ngày lễ Phật Đản như
thường lệ. Phật tử vây đài
phát thanh đ̣i giải thích. Cảnh sát Thừa Thiên
đến bao vây, có mặt cả thiếu tá Đặng
Sỹ, chỉ huy trưởng tiểu khu Thừa Thiên và
trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên. Trong
lúc hỗn loạn, đặc công của cộng sản
liệng lựu đạn làm chết 9 người và
bị thương 13 người. Thế
là cuộc tranh đấu của Phật Giáo bùng nổ.
Có thể đây là đ̣n của cộng sản muốn
thúc ép ông Ngô Đ́nh Nhu tái họp lần thứ hai với
Phạm Hùng sớm hơn và đưa yêu sách "khiêm
tốn hơn".
Đầu tháng 11-1963, các tướng trong
quân đội của ông Diệm làm đảo chánh thành
công. Anh em ông Diệm, Nhu theo
đường hầm trốn vào Chợ-lớn ở nhà
Mă Tuyên. Phải chăng hai anh em ông Diệm, Nhu định
chờ người của Phạm Hùng và Nguyễn công Tài
đến đón ra bưng biền?
Suốt những ngày vào
Nam, nhất là sau khi Nguyễn công Tài bị tù, gia đ́nh
của Nguyễn Công Tài có chút thay đổi. Bà hiệu
trưởng trường Mầm Non, Nguyễn thị
Nghĩa - vợ của Nguyễn công Tài - đă ngả vào
ḷng của đại tá Hồng Hà, chánh văn pḥng kiêm
vụ trưởng vụ tổng hợp của bộ
công an. Có lẽ ghen hộ con trai nên nhà văn Nguyễn công
Hoan là người đi đầu trong việc
"trấn áp" Nhân Văn-Giai Phẩm, cho đến
tận tác phẩm "Hỗn canh hỗn cư" c̣n ca
ngợi cách mạng hết lời th́ đột ngột
thay đổi trong tiểu thuyết "Đống rác cũ",
vạch mặt những "cán bộ" cách mạng
chỉ là lũ lừa đảo, lưu manh. V́ là của Nguyễn công Hoan nên nhà xuất bản
Văn Học phải in. Khi phát hành được khá
lâu, Tố Hữu mới để mắt tới và phát
hiện "có vấn đề" và tập I của
"Đống rác cũ" bị thu
hồi, tập 2 bị đ́nh chỉ phát hành.
Giữa năm 1975,
Nguyễn công Tài về nhà ngồi "chơi xơi
nước", bị t́nh nghi là có vấn đề trong
thời gian bị giam ở Bạch Đằng (Sài-g̣n). Phải
cho đến lúc Phạm Hùng lên nắm chức chủ
tịch hội đồng bộ trưởng, Nguyễn
Công Tài mới được đeo lon thiếu
tướng công an, đổi tên thành Nguyễn Tài và
giữ chức tổng cục trưởng tổng
cục hải quan. Vợ là Nguyễn thị Nghĩa
cũng vào ngành công an, đeo lon trung tá, phụ trách
trưởng pḥng quản lư thiếu nhi
phạm pháp thuộc Cục quản lư trại giam. C̣n
"kẻ địch" của Nguyễn công Tài,
đại tá Hồng Hà cũng lên lon thiếu tướng,
giữ chức giám đốc Sở công an
Tây Nguyên. Nguyễn công Tài chắc cũng tự an ủi qua
bất hạnh của người khác v́ cấp
dưới xưa kia của ông ta là thiếu tướng
Quang Pḥng, cục phó cục phản gián, cũng bắt
được quả tang vợ đang... ấy... với
trung tá Vũ Quân, đệ tử ruột của Quang Pḥng,
anh chàng này là con rể của nguyên chủ nhân nhà hàng Bodéga
ở phố Tràng Tiền (Hà-nội), người đă
được báo chí Hà-nội ca ngợi về thành tích
"vồ gái điếm" vào ngủ với nhân viên các
sứ quán phương Tây ở Hà-nội.
Tháng 10-1992
Chuyện thâm cung dưới
triều đại Hồ chí Minh
(Phần 4)
Việt
Thường
Quốc hội khóa 9
của Cộng sản Việt Nam
Cộng
sản Việt Nam đă cho phép tổ chức bầu
cử Quốc hội “bù nh́n” khóa 9 vào ngày chủ nhật
19-7-1992 trên toàn quốc.
Hầu
hết 601 người được đưa ra trong tṛ
hề bầu cử này là do Mặt Trận Tổ Quốc
Việt Nam, một công cụ do cộng sản Việt Nam
nặn ra để gom tất cả các thành phần dân
chúng Việt Nam vào trong tổ chức ngơ hầu dễ lănh
đạo và c̣n có lợi ở chỗ như là một
tổ chức có tính "toàn dân", làm cái mặt nạ
"dân chủ" cho cộng đảng.
395 người đă được cho trúng
cử. Đương nhiên đó là những
người đương chức đương
quyền như Đỗ Mười, Vơ văn Kiệt,
Phan văn Khải v.v... Số c̣n lại
hầu hết là những người có quyền lợi
gắn bó chặt chẽ với cộng sản hoặc có
quá tŕnh "gọi dạ bảo vâng" với cộng
sản. C̣n lại đếm chưa hết
đầu ngón tay là những
người đă thấm nhuần chân lư sống trong xă
hội cộng sản là "thứ nhất ngồi
ỳ, thứ nh́ đồng ư". Và nếu
có ai đó không đồng ư th́ cũng chỉ là
"hạt cát trong sa mạc".
Dù
không trực tiếp chứng kiến nhưng cũng có
thể thấy được giới lănh đạo
cộng sản Việt Nam hí hửng ra sao với cái
cấu trúc Quốc Hội con rối lần này.
Phải chăng nhân dân
Việt Nam lại chấp nhận để cộng
sản lừa quả thứ 9? Không
phải vậy. Chỉ xét kết qua bầu cử
ở hai thành phố tiêu biểu là Hà-nội và Sài-g̣n th́ rơ:
- Ở
Hà-nội, giáo sư trường đại học y khoa là
bác sỹ Tôn thất Bách được cao phiếu
nhất 91,96% trong khi Đỗ Mười, tổng bí
thư cộng đảng chỉ được 80,29%. C̣n
ở Sài-g̣n, đầy tớ trung thành bậc nhất
của đảng là Phạm thị Thanh Vân, quen
được gọi là luật sư Ngô bá Thành, bị
đảng "đuổi việc" một cách khéo léo
là dựa vào "ư dân"!
Mặc
dù bị siết chặt bằng một thể chế
chính trị hà khắc và độc tài nhất trong lịch
sử Việt Nam (hơn cả thời thực dân Pháp
thống trị), nhưng người dân Hà-nội vẫn
có 1001 kiểu chống cộng - tầng lớp thống
trị - trên mọi b́nh diện. Phong trào Nhân Văn-Giai
Phẩm và kế tiếp là các chuyện tiếu lâm thời
đại, sửa lời bài hát; các bài thơ ghế
đá; sự kiện thơ Lư phương Liên; nhại
thơ Bút Tre; đi lễ cả Nhà Thờ, lẫn Chùa và
Miếu; cúng lễ tổ tiên; chế riễu những
thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ, thanh niên đeo huy
hiệu đoàn; phong trào học Anh ngữ rầm rộ, né
tránh học tiếng Nga và tiếng Tàu. Cao hơn nữa là
tụ họp đánh phá các đồn công an, các nhà hàng
quốc doanh, ăn cắp chiếc xe hơi của
Trường Chinh, đặt chất nổ ở ṭa
soạn báo quân đội nhân dân, rồi sự kiện
Tạ đ́nh Đề v.v... C̣n trong bầu cử Quốc
Hội bù nh́n, ngay lần bầu khóa 2, lần đầu
tiên tên của Hồ chí Minh đă bị một phiếu xóa
bỏ ở ngay khu bầu cử Ba-đ́nh, nơi tọa
lạc biệt điện của Hồ chí Minh.
Người anh hùng dấu tên đó đă làm cho Sở công an Hà-nội; Cục bảo vệ chính
trị, Cục 78 bộ công an điên cuồng lên. Trong cơ quan, ngoài đường phố một
thời chuyện lén về "cái anh chàng liều
mạng" đó. Từ lần bầu khóa 3 trở
đi, cộng sản Việt Nam rút kinh nghiệm
để có thể dễ dàng điều tra ra
"kẻ" dám xóa tên "lănh tụ" trong phiếu
bầu th́ người Hà-nội không xóa nữa mà cố
t́nh vi phạm điều lệ bầu. Thí dụ:
phiếu bầu in 7 tên, được bầu 6 th́ hoặc
cứ để cả 7 tên hoặc xóa cả 7 tên. Cho dù bắt toàn thể cử tri đi bầu
nhưng không một ai được 100% số phiếu,
kể cả Hồ chí Minh.
Dưới chế
độ công sản, đi bầu cử là một
điều bắt buộc chứ không phải là quyền
lợi của cử tri. Bởi v́ ứng
cử viên phải là người do tổ chức của
cộng sản đưa ra, ngay cả người sẽ
phải là vật hy sinh để bị gạch tên cũng
thuộc thành phần mà lư lịch đă được
Cục 78 thuộc bộ công an nhận xét là
"tốt", là "không có vấn đề".
Mỗi lần bầu cử là một lần cộng
sản kiểm tra lại "bộ máy thống
trị" của cộng sản xem có khả năng
kiểm tra tư tưởng nhân dân, tổ chức cho nhân
dân tuân lệnh của đảng đến mức
độ nào. V́ thế ứng cử viên là
ai, cử tri không được phép biết; nguyện
vọng của cử tri là ǵ, ứng cử viên chẳng
thèm bận tâm. Chỉ có điều biết là tất
cả cử tri, theo sự lănh
đạo của các tổ chức đảng ở
cơ sở, phải "hồ hỡi, phấn
khởi" đi bỏ phiếu. Mọi người
được học tập phải ăn
mặc những bộ áo quần đẹp nhất,
phải có nét mặt tươi cười cho dù là gia
đ́nh đang có đại tang. V́,
đại tang chỉ là nỗi "buồn riêng", c̣n
ngày bầu cử là cái "vui lớn của cả
nước". Công sản tổ
chức sao cho người hấp hối cũng phải
bỏ phiếu, bằng cách mang ḥm phiếu đến
tận giường người sắp chết, rồi con
cháu hoặc tổ dân phố cử người bỏ
phiếu hộ. Cho nên cái mà báo chí cộng sản
thường đưa tin đại loại như 99%
hoặc 100% cử tri đi bỏ phiếu th́ người
đọc phải hiểu là ở khu vực bầu
cử đó, tổ chức đảng cơ sở đă
phối hợp với các cục hay pḥng chức năng
của Sở công an và Bộ công an làm được
tốt cái việc kiểm tra định kỳ (các dịp
bầu cử quốc hội hoặc hội đồng
nhân dân) tư tưởng nhân dân ở địa
phương ḿnh quản lư vẫn khuất phục
đảng là bao nhiêu phần trăm. Trước tháng
tư 1975, có lẽ cả miền Bắc Việt Nam
chỉ có một người duy nhất "tẩy
chay" tṛ hề bầu cử của cộng sản mà
chính quyền cộng sản phải nuốt hận làm vui,
đó là đức Hồng-y Trịnh Như Khuê. C̣n cán
bộ và nhân dân th́ bị tước luôn cả cái quyền
"không muốn đi bầu cử" cũng không
được. Bởi v́ chính quyền cộng sản ngoài
việc khủng bố tư tưởng trước và
trong khi bầu cử, c̣n gắn việc bầu cử vào
các quyền lợi hàng ngày của cán bộ và nhân dân,
như muốn đi đâu phải xin giấy thông hành mà
công an chỉ cấp thông hành với điều kiện
đương sự phải xuất tŕnh thẻ cử
tri có đóng dấu của ban tổ chức bầu cử
xác nhận đă đi bầu, nghĩa là đă bầu
đúng như đảng hướng dẫn; phụ
nữ có con mong muốn mua sữa tiêu chuẩn cho con
nhỏ cũng phải xuất tŕnh thẻ cử tri cùng tem
phiếu cung cấp sữa; các hộ đi mua gạo,
đi khám bệnh, đi làm giấy khai sinh, khai tử, hôn
thú v.v... cũng phải xuất tŕnh
thẻ cử tri hợp lệ. Phóng viên báo chí và cơ quan
thông tấn nước ngoài chỉ nh́n thấy nơi
bỏ phiếu nhộn nhịp, mọi người ăn
mặc chỉnh tề, nét mặt "phấn khởi"
chứ chẳng bao giờ họ có thể thấy
được những sơị dây vô h́nh và oan trái mà
đảng cộng sản Việt Nam cột chặt
cử tri với thùng phiếu mà đảng nặn ra. Sau
năm 1975, nhân dân ở miền Nam Việt Nam chắc không
thể quên được việc họ phải giữ
ǵn thẻ cử tri như bùa hộ mạng, kể từ
lúc được làm công dân nước Việt Nam dân
chủ cộng ḥa và liền ngay đó đảng hứng trí
đổi sang thành nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam.
Đảng cộng
sản Việt Nam đă dùng mọi biện pháp để
đảm bảo tất cả đại biểu
quốc hội là "nghị gật", là con bài của
đảng đưa ra. Nhưng chắc
chẳng ai có thể hiểu được những
sự thực phũ phàng ở trong cái quốc hội bù
nh́n ấy, là đảng c̣n cẩn thận cho hầu
hết đại biểu của quốc hội là
đảng viên, phải theo kỷ
luật đảng là tán thành tất cả ư kiến
đảng dù cho ḿnh có ư kiến khác đôi chút. Đảng
tuyển lựa những đại biểu quốc
hội vốn là thành viên của chính phủ, của lănh
đạo đảng ở các tỉnh, số c̣n lại
là đảng viên nhưng phải hoàn toàn "ngu
dốt" như làm nghề quét rác, đổ phân, cu ly làm
đường, đồ tể mổ ḅ v.v... bởi v́
dốt th́ chỉ có con đường duy nhất là
"đồng ư" trong các cuộc họp của
quốc hội, v́ có biết mô tê ǵ đâu mà có ư kiến.
Trong quốc hội bù
nh́n, cũng có một vài người là nhân sĩ hoặc
đảng phái khác mà cộng sản cho phép hoạt
động như đảng Dân Chủ, đảng Xă Hội. Thế
nhưng trong các cuộc họp của quốc hội, các
đại biểu đó không được phép tự do
tham luận, mà ai tham luận và nội dung tham luận cái ǵ
là do Ban thư kư của quốc hội
"giao nhiệm vụ". Đă thế, tham luận c̣n
bị đại diện của cộng sản kiểm
duyệt trước và cho ư kiến sửa chữa và xác
nhận mới được nộp lên Ban thư
kư Quốc Hội. Thí dụ: ngay như Trần đăng
Khoa, phó tổng thư kư đảng Dân Chủ Việt Nam
kiêm phó chủ tịch quốc hội, ấy thế mà
bản tham luận của ông ta phải đưa cho
Nguyễn việt Nam duyệt, là đảng viên cộng
sản giữ chức ủy viên trung ương
đảng Dân Chủ, phụ trách tuyên huấn và tổ
chức của đảng Dân Chủ kiêm tổng biên
tập tuần báo Độc lập, cơ quan "ngôn
luận" của đảng Dân Chủ Việt Nam!!! (Sau tháng 4-1975, Nguyễn việt Nam vào Sài-g̣n và
giữ chức chủ tịch hội đồng nhân dân
Sài-g̣n). Ngay như sinh thời của bộ
trưởng giáo dục Nguyễn văn Huyên, vốn là nhân
sỹ trí thức, gần cuối đời
được kết nạp đảng (kiểu làm
cảnh như Nguyễn hữu Thọ), nhưng bao giờ
tham luận hoặc các bài nói chuyện của ông ta
đều phải được đại diện
đảng đoàn cộng sản ở Bộ Giáo Dục
duyệt trước, mặc dù tất cả đều do
thư kư riêng của ông ta (là đảng viên cộng
sản và do ban tổ chức trung ương chỉ
định) soạn thảo. Những người có
"quyền" duyệt bài của bộ trưởng
Nguyễn văn Huyên lại là các "phó" của ông ta:
các thứ trưởng giáo dục Hà huy Giáp (bí thư
đảng đoàn cộng sản), Vơ thuần Nho (ủy
viên đảng đoàn, là em của tướng Vơ nguyên
Giáp), Hồ Trúc (ủy viên đảng đoàn c̣n kiêm thêm
ủy viên ban bí thư đoàn thanh niên cộng sản). Giờ đây, người nước ngoài và
kể cả người Việt Nam vẫn c̣n ngộ
nhận cho rằng Nguyễn hữu Thọ là người
có quyền lực. Sự thật ông ta
(tuy cũng đă được vào đảng cộng
sản, kiểu như Nguyễn văn Huyên) vẫn là bù
nh́n, có khác là bù nh́n có tầm vóc lớn hơn và trang sức
ḷe loẹt hơn mà thôi. Hiện nay, tuy mang danh chủ
tịch đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ
quốc, nhưng mọi việc là do phó của ông ta, nhân
vật Phạm văn Kiết tức Năm Vận,
người đă được là một trong số 101
ủy viên chính thức của trung ương cộng
sản Việt Nam sau đại hội cộng
đảng lần thứ 4, quyết định.
Đảng
cộng sản Việt Nam có thể quá kém cỏi trong lănh
đạo và quản lư kinh tế, nhưng họ rất
"vô địch" về mặt đàn áp, thống
trị, về tổ chức khống chế dân, bảo
vệ an ninh chính trị, quản lư các nhà tù và lừa đảo,
trí trá. Cho nên, trong lần bầu cử quốc hội bù
nh́n lần thứ 9 này, có vẻ như "mới"
hơn tám lần trước, ví dụ có cho "tự do
ứng cử" bên cạnh sự giới thiệu
của Mặt trận Tổ quốc; thành phần trí
thức nhiều hơn; có người tưởng
phải đắc cử lại rớt đài như
Phạm thị Thanh Vân, có người uy tín ở khu
vực bầu cử c̣n cao hơn cả uy tín của
người đứng đầu cộng đảng,
như giáo sư Tôn thất Bách được 91,96%, c̣n
Đỗ Mười chỉ được 80,29%.
Nếu cộng
sản đẻ ra 1001 cách đàn áp nhân dân th́ nhân dân
cũng có 1001 sáng kiến để chống trả. Tỷ
lệ đắc cử 91,96% của giáo
sư Tôn thất Bách là một thí dụ. Vậy
giáo sư Tôn thất Bách là ai? Sao ông giáo sư này có uy
tín lớn như vậy ở cái đất Hà-nội,
thủ đô của nước Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam với biểu tượng là
cái lăng của ông Hồ chí Minh được xây ở
sân đua xe đạp do thực dân Pháp làm ra?
Giáo sư bác
sỹ Tôn thất Bách là nhà phẩu thuật có tài, con trai của
cố giáo sư bác sỹ Tôn thất Tùng, nguyên giám
đốc bệnh viện Việt-Đức (tức
bệnh viện Phủ doăn ở Hà-nội), người
t́m ra phương pháp mổ gan khô, người
được qua Mỹ hội thảo về chất
độc màu da cam sau năm 1975, khi về có một
loạt bài đăng ở báo Nhân Dân (nếu đọc
kỹ sẽ thấy sự ca ngợi nền tự do và
giàu có ở Mỹ), và sau loạt bài viết đó th́
đột ngột chết v́ bệnh tim, mặc dù
trước đó cả vợ con (đều ở ngành y)
cũng như bạn bè, họ hàng và đồng nghiệp
không ai nghe nói giáo sư Tôn thất Tùng có bệnh tim bao
giờ. Là một nhà chuyên môn đơn thuần, không
đảng phái, trực tính nhưng cộng sản
Việt Nam lợi dụng được nhiều ở uy
tín cũng như lư lịch của giáo sư Tôn thất Tùng
để bôi bóng cho cái bánh vẽ "dân chủ", cho nên
có nhiều câu nói và việc làm của giáo sư Tôn thất
Tùng, nếu là ở người khác chắc phải đi
cải tạo mút chỉ, như giáo sư Tôn thất Tùng
rất coi thường "chuyên gia" nước đàn
anh. Quan điểm cộng đảng
Việt Nam là phải coi "chuyên gia" như cha, chú,
như thầy. Ngoài ra, giáo sư Tôn thất Tùng c̣n có
những câu nói kiểu "bạo phổi" như ông
thường nói rằng ngoài sách về y khoa ra ông chưa
bao giờ có thể xem một cuốn sách chính trị
hoặc thơ văn của Việt Nam (tức của
cộng sản) mà ông chỉ thích các loại "Série
Noire" với các tác giả như Peter Cheney, Jean Bruce,
Agatha Christie v.v... Là cháu rể của tổng đốc Vi
văn Định, có quan hệ cột chèo với giáo
sư thạc sỹ Hồ đắc Di và tiến sỹ
bộ trưởng giáo dục Nguyễn văn Huyên (hai ông
này là con rể của tổng đốc Vi văn
Định), giáo sư Tôn thất Tùng gần như ít
chơi với ai ngoài 2 người họ hàng này. Giáo sư
Tôn thất Tùng tự hào ḍng dơi hoàng phái của ḿnh một
cách công khai và ông thường tỏ vẻ "coi
thường" công tŕnh "súp-ti-lít" pḥng lao của
bác sỹ bộ trưởng y tế Phạm ngọc
Thạch (đảng viên cộng sản) là phản khoa
học và ông xin từ chức thứ trưởng bộ y
tế. Đây là trường hợp từ
chức duy nhất trong chế độ cộng sản
ở Việt Nam cho đến nay. Giáo
sư Tôn thất Tùng là thể hiện chủ nghĩa dân
tộc của Việt Nam trong trí thức ở chế
độ cộng sản miền Bắc Việt Nam. Đó là điều người Hà-nội yêu
mến ông ta v́ từ lư lịch đến nói và hành
động hoàn toàn ngược lại với ḍng "chính
thống" của cộng sản Việt Nam. Có
lẽ do ảnh hưởng của gia đ́nh, nên ngay
từ lúc c̣n ngồi ở trường Phổ thông 3A
ở Hà-nội, giáo sư Tôn thất Bách đă có hành
động được nhiều thanh niên cùng lứa tuổi
kính phục: đó là từ chối làm đơn gia
nhập đoàn thanh niên cộng sản. Nếu không
phải là con giáo sư Tôn thất Tùng, lá bài "dân
chủ" của đảng, th́ chắc học sinh Tôn
thất Bách đă bị đuổi học.
Trong tṛ hề
bầu cử quốc hội khóa 9 này, nắm bắt
được giáo sư Tôn thất Bách cũng giống
cha, là nhà chuyên môn đơn thuần nên cộng đảng
giới thiệu ra ứng cử cho đủ màu sắc. Người dân Hà-nội, quá quen vơ của cộng
sản nên đă lách qua chỗ sơ hở không thể tránh
được của đảng mà biểu lộ ư
kiến của ḿnh một cách "hợp pháp". Cái
ư kiến đó là: chúng tôi tín nhiệm một người
phải là trí thức; một người lư lịch gia
đ́nh và bản thân không nằm trong công thức của
cộng sản; một người mà lúc c̣n trẻ đă ư
thức được rằng không nên gia nhập một
tổ chức "cánh tay mặt" của đảng
cộng (có lẽ v́ mường tượng thấy nó là
tổ chức "không đàng hoàng").
Đỗ
Mười, người quyền hành nhất ở
Việt Nam bấy giờ bị thua tín nhiệm khá xa (dù
trong bầu bán ḷe bịp) đối với một
người không quyền hành, xuất thân "phong
kiến", ngay ở khu vực bầu cử thuộc thủ
đô Hà-nội (đại diện của cả
nước) là bằng chứng rơ ràng rằng nhân dân
Việt Nam sẽ lựa chọn chế độ chính
trị nào nếu có một cuộc bầu cử thực
sự công bằng và tự do!
C̣n việc bầu cử
ở Sài-g̣n th́ sao? Có hai sự việc
đáng lưu ư: một là bà luật sư Ngô bá Thành (tên khai
sinh là Phạm thị Thanh Vân) được Mặt
trận Tổ quốc giới thiệu ra ứng cử
ở đơn vị bầu cử số 4 ở Sài-g̣n
bị... rớt đài. Theo bà Ngô bá Thành tuyên bố lư do ngă
ngựa của bà, ấy là do có gian lận trong khu vực
bầu cử 4 nhằm loại trừ bà ra khỏi
quốc hội khóa 9. Qua trả lời phỏng vấn
của phóng viên đài BBC, bà luật sư Ngô bá Thành nói
rằng: "... ở những tổ mà người ta
mạn đàm về việc bầu cử th́ đả có
những sự hướng dẫn là đừng có bỏ
phiếu cho tôi, v́ tôi nhiều lần ở quốc hội
đă đưa ra những ư kiến rất là thẳng
thắn lên án những người vi phạm luật pháp,
dù người đó là ai, trong đó tất nhiên dẫn
đầu là tham nhũng..."
Trước khi nhận
xét ư kiến của bà luật sư Ngô bá Thành, nghĩ
rằng cần thiết nhắc lại "quá tŕnh làm cách
mạng" của bà Ngô bá Thành. Là
một trí thức được đào tạo tại
phương Tây, bà luật sư Ngô bá Thành làm việc và sinh
sống ở Sài-g̣n. Ông thân sinh ra bà là thú y sỹ
Phạm văn Huyến cũng từng hăng hái chống
chính quyền Sài-g̣n, ủng hộ Hà-nội nên bị
tướng Nguyễn cao Kỳ cho đẩy ra miền
Bắc. Chắc cũng tưởng sẽ được
đón tiếp như một anh hùng (loại hoang
tưởng), nào ngờ cộng sản Hà-nội coi ông thú
y sỹ Huyến quá tầm thường, cho ở một
căn pḥng độ 12m2, tháng tháng ra Mặt trận Tổ
quốc lănh 45 đồng tiền Hà-nội (bằng
lương bậc 2 của nhân viên bưng cà phê ở
cửa hàng quốc doanh). Chỉ măi đến khi cộng
đảng quyết định dùng lá bài Ngô bá Thành quấy
phá chính quyền Nguyễn văn Thiệu nhằm làm suy
yếu lực lượng quốc gia chống sự xâm
lăng của cộng sản th́ thú y sỹ Huyến
mới được nâng "trợ cấp" lên gần
80 đồng, được đổi sang một căn
pḥng rộng hơn tư chút và được quét vôi lại
tường cho "vệ sinh". Bà luật sư Ngô bá
Thành bị chính phủ Nguyễn văn Thiệu bắt giam
tại đề lao Gia-định, bà
tuyệt thực (nhưng vẫn húp trứng gà và uống
sữa). Tuy ở tù nhưng bà vẫn
được họp báo để phê phán chế
độ Sài-g̣n.
Sau tháng 4-1975,
cộng sản Hà-nội chưa lường đúng
chỗ "yếu" của miền Nam nên hết
sức quan tâm công tác "địch vận". Họ tuyên bố chính sách "ḥa hợp, ḥa
giải dân tộc", tuyên bố "duy tŕ năm thành
phần kinh tế". Viên tướng
hậu cần Đinh đức Thiện cho mở lớp
nghiên cứu chính trị cho trí thức ở miền Nam làm
như đảng cộng thực ḷng yêu quí trí thức.
Trong khi đó, ở Hà-nội, Xuân Thuỷ, bí thư trung
ương cộng đảng, phó chủ tịch quốc
hội cho mời cựu thị trưởng Hà-nội
trước 1954 là ông dược sỹ Thẩm hoàng Tín
ăn cơm, gặp gỡ thú y sỹ Phạm văn
Huyến ủy lạo và gợi ư có thể sẽ
đề cử bà luật sư Ngô bá Thành làm chủ
tịch ủy ban nhân dân Sài-g̣n sau khi thành phố này hết
thời kỳ do quân quản cai trị. Được tin
này, bà luật sư Ngô bá Thành ngồi trong căn nhà riêng
ở kế Nhà Đèn (chắc là) ngửa mặt lên
trời cười lớn ba tiếng cho rằng ngôi
mộ tam đại bắt đầu phát!
Nào ngờ, hầu hết
các tướng tá, quân đội cũng như nhân viên chính
quyền, tổ chức đảng phái ở miền Nam
đều mắc quả lừa "hoà hợp, ḥa
giải" của cộng đảng, đem thân vào
chốn tù đày. Đó là lư do sự
chống đối quá yếu ớt của miền Nam. Cho
nên cộng đảng thấy không cần thiết
phải đeo "mặt nạ" dựng "con
rối" nữa. Nhiệm vụ bù nh́n của Mặt
trận Giải phóng, của Chính phủ Lâm thời
Cộng ḥa miền Nam Việt Nam, của đảng Nhân
Dân cách mạng đă hết. Lịch sử đă sang trang,
cộng đảng lộ nguyên h́nh không cần biến hóa
nữa; cụ Thẩm hoàng Tín không được Xuân
Thủy mời ăn cơm lần thứ hai. Phương
án "chủ tịch Sài-g̣n Ngô bá
Thành" bị quăng vào sọt rác. Tiếc rằng bà
luật sư Ngô bá Thành, có thể có học về luật
nhưng "nhẹ dạ" về chính trị và cứ
"hoang tưởng" sẽ là một thứ Nguyễn
thị Định chăng. Bà ta từ
chối cái ghế giáo sư ở đại học
Mỹ, ra sức "ca ngợi" cộng sản
Hà-nội (bảo hoàng hơn cả nhà vua), tưởng
rằng nếu không làm chủ tịch Sài-g̣n th́ chí ít
cũng giữ một ghế bộ trưởng. Bà
đă chuẩn bị tư tưởng và kiến thức
nên khuân về nhà đủ các sách lư luận chính trị
của nhà xuất bản Sự Thật, từ Marx, Lénine
đến Hồ chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh và
Phạm văn Đồng v.v... Quyết tâm theo
cộng sản nhưng bà chẳng hiểu ǵ về
cộng sản. Sở dĩ bà Nguyễn thị B́nh
được làm bộ trưởng giáo dục trong chính
phủ thống nhất, cũng như trước đó
là bộ trưởng ngoại giao của chính phủ lâm
thời con rối Cộng ḥa miền Nam Việt Nam,
cướp chỗ của Trần bửu Kiếm,
để đọc các bài được viết sẵn
ở hội nghị Paris về Việt Nam, là v́ bà B́nh
đă từng là thư kư riêng của Nguyễn thị Thập,
ủy viên trung ương đảng cộng từ khóa 2,
chủ tịch hội Liên Hiệp Phụ Nữ. Bà B́nh
đă vào đảng cộng từ lâu, do Nguyễn thị
Thập kết nạp, và đă được cho làm
Vụ phó Vụ lễ tân bộ ngoại giao của chính
phủ cộng sản Hà-nội. Chính ở đây, bà B́nh
với vẻ duyên dáng, giọng nói ấm áp, đă lọt
vào "mắt xanh" của bộ trưởng Xuân
Thủy, bí thư trung ương đảng cộng. Xuân Thủy giữ chức vụ bộ
trưởng ngoại giao cho đến khi làm nhiệm
vụ ḥa đàm ở Paris mới bàn giao cho Nguyễn duy
Trinh. Trong con mắt của ông lang
băm Xuân Thủy, bỏ nghề dao cầu đi làm cách
mạng vô sản, th́ phụ nữ muốn tham chính
phải có tiêu chuẩn "đẹp". Cho nên ngoài bà
B́nh là người được Xuân Thủy nâng
đỡ, c̣n một cô gái đẹp nữa là cô tự
vệ ở thị xă Thanh Hóa, tên Nguyễn thị Hằng,
tuy chỉ là chiến sỹ thi đua, c̣n thua xa về thành
tích so với Ngô thị Tuyển là anh hùng toàn quốc.
Nhưng Tuyển hơi "xấu", c̣n Hằng cao
lớn, trông như lai, thật là mát mắt, cho nên đă
được Xuân Thủy lôi về từ hợp tác xă
đan cói, hấp một cái thành đại biểu
quốc hội, thành viên có giá của ủy ban đối
ngoại (hiện nay Hằng là ủy viên trung ương
chính thức cộng đảng khóa 7). C̣n bà Ngô bá Thành,
đă chẳng phải là đảng viên, về h́nh thức,
dung nhan ở dưới mức trung b́nh th́ làm sao
đủ "tiêu chuẩn làm quan tắt"
được.
Được cộng
đảng cho một chân đại biểu quốc
hội. Tất nhiên là
được Mặt trận Tổ quốc "hiệp
thương" giới thiệu ra ứng cử ở
Sài-g̣n. Tất nhiên là được "ở
những tổ mà người ta mạn đàm về
việc bầu cử th́ đă có những sự
hướng dẫn là bỏ phiếu cho" bà
luật sư Ngô bá Thành, và quả nhiên bà Ngô bá Thành đă
trúng cử theo đúng cách thức
bầu bán như lần này bà thất cử. Nhưng
chỉ lần này, v́ rớt đài bà Thành mới thấy "sự
gian lận", mới chua chát "phủ nhận giá
trị pháp lư, chính trị, đạo lư của
cuộc bầu cử". Bà khoe với phóng
viên đài BBC rằng: "Nhiều lần ở quốc
hội đă đưa ra những ư kiến rất là
thẳng thắn lên án những người vi phạm
luật pháp, dù người đó là ai...".
Chuyện "lên án" này chắc
chỉ có bà Ngô bá Thành và người bị bà lên án biết
với nhau. C̣n người dân, người ta chỉ
thấy bà là con người tráo trở "ăn cơm
của miền Nam (trước 4-1975) để quấy phá
miền Nam", hănh tiến v́ nhiều cuộc họp
của dân phố Sài-g̣n, nhân dân yêu cầu bà đến
dự, nhưng bà "khinh", không thèm đến dù
cho chỉ là một lần. Bà nghĩ là gần gũi
với "trung ương" nên xem thường
"địa phương", thậm chí bà cũng
chẳng thèm đến họp với đoàn đại
biểu quốc hội (bù nh́n) thuộc thành phố Sài-g̣n.
Đă từ lâu, trên các báo Sài-g̣n Giải phóng, Tuổi
trẻ v.v... người ta lên án thái
độ nịnh trên, coi thường cử tri của bà.
Giới lănh đạo cộng sản coi bà là đày tớ
trung thành, căn cứ vào những phát biểu của bà khi
công du ra nước ngoài, nào là chính sách giam giữ sỹ
quan, nhân viên... chính quyền ở Sài-g̣n cũ là đúng,
là nhân đạo v.v... trong khi mà bà
đă từng được đối xử ra sao khi
bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu giam ở
đề lao Gia-định. Cũng cái đề lao đó nay đổi thành T.20 (hoặc
trại giam Phan đăng Lưu), tù nhân bị giam tàn
bạo như thế nào, đă bao giờ bà dám
"thẳng thắn lên án những người vi phạm
luật pháp" chưa? Chưa bao giờ.
Nếu c̣n trong thời hoàng kim, chắc
chắn giới lănh đạo cộng sản tiếc ǵ bà
một chỗ ngồi "gật đầu" trong
quốc hội bù nh́n. Nhưng giờ đây chính bọn
họ đă thấy sức mạnh của nhân dân ở Nga
Xô (xưa) và các nước Đông Âu (cũ) cũng như
ḷng căm phẫn của nhân dân Việt Nam ở trong và
ngoài nước. Họ đành "thí" bà,
hy vọng nhất thời xoa dịu được chút nào
ḷng dân đang bất măn với chế độ hiện
hành. Ngă đau thật, nhưng bà luật sư Ngô bá
Thành vẫn hoang tưởng suy diễn rằng: "Tôi
hiện giờ là chủ nhiệm ủy ban pháp luật
của quốc hội khóa 8, nếu tôi đắc cử
lần này th́ chắc là quốc hội cũng sẽ
bầu tôi tiếp tục làm chủ nhiệm ủy
ban". Đọc câu phát biểu trên, dù là con
nít cũng thấy bà Ngô bá Thành tâm thần không ổn
định.
Là người
trong cuộc của những tró hề bầu cử và
ứng cử của cộng sản; là người có bằng
cấp chứng nhận kiến thức về luật
pháp, vậy mà điều đơn giản là tất
cả các cuộc bầu bán dưới chế độ
cộng sản đều là gian lận có tổ chức
chặt chẽ, là phi pháp lư, phi chính trị, phi đạo
lư, bà luật sư Ngô bá Thành vẫn chưa nhận ra và
"thẳng thắn" nêu những điều đó
khoanh tṛn trong đơn vị bầu cử 4 ở Sài-g̣n,
nơi bà bị găy ghế. Quả là thẳng thắn
vậy thay! Nhất là đoạn thư bà gửi cho Hội
đồng bầu cử, rằng: "Tôi phải công khai
bày tỏ thái độ của ḿnh trước sự bôi
nhọ nền dân chủ xă hội chủ nghĩa mà tôi
đă dày công vun đắp trong quá tŕnh làm người
đày tớ thật trung thành của nhân dân tại
quốc hội, từ ngày đất nước sạch
bóng quân thù và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xă
hội trong cả nước dưới sự lănh
đạo của đảng cộng sản Việt
Nam." Đọc những ḍng lâm ly trên của một
phụ nữ tuổi đă xế chiều, vốn không
nhan sắc, dù Xuân Thủy c̣n sống chắc cũng
mủi ḷng cho "người đày tớ thật trung
thành"; bị chủ vứt sọt rác mà vẫn
"trung thành"; c̣n nhà trường và các giáo sư đă
có công đào tạo ra cái loại "trí thức, luật
gia" đó chắc phải che mặt xấu hổ.
Sự việc
thứ hai đáng chú ư ở Sài-g̣n trong bầu cử là
việc Nguyễn hữu Khương, đại tá, giám
đốc sở công an Sài-g̣n, đă
đắc cử. Vậy Nguyễn hữu Khương là
con người như thế nào? Ông ta vốn xuất thân
bên quân đội, từng là đệ tử ruột
của viên đại tá quân đội mang họ Hồ,
chuyển ngành ra làm phó ban kinh tế của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam mà trưởng ban là bà Nguyễn
thị Dung, mẹ vợ của Huỳnh tấn Mẫm, có
một thời gian làm đại sứ cho cộng sản
Hà-nội ở Liên hiệp quốc. Viên đại tá
họ Hồ này có dính líu vào nhiều vụ việc bê
bối về kinh tế ở Mặt trận Tổ
quốc, và đột ngột chết, một cái chết
c̣n nhiều bí ẩn ở nhà riêng tại đường
Vơ thị Sáu (Hiền Vương cũ) Sài-g̣n. Khương
được chuyển qua Sở công an Sài-g̣n khi đeo lon
đại úy, rồi lên thiếu tá trưởng pḥng
quản lư trật tự an ninh chính trị và an toàn xă
hội, một đệ tử thân tín của
thượng tướng công an Lâm văn Thê. Năm 1987,
Khương được thăng phó giám đốc
phụ trách thường trực Sở công an
Sài-g̣n, đeo lon trung tá. Và, khi Lâm văn Thê chết,
Nguyễn hữu Khương được giữ
chức quyền giám đốc Sở công an và đầu
năm 1991 được vào thành ủy của Sài-g̣n. Con
đường quan lại thật trôi chảy bởi
Nguyễn hữu Khương được "phe
cộng sản miền Nam" coi là người
"Nam" hoàn toàn, không dính dáng ǵ đến miền
Bắc, nhất là chưa bao giờ có quan hệ với
giới chức công an chóp bu ở
Hà-nội. Đă thế Nguyễn hữu Khương
lại cực kỳ khôn ngoan với các cấp lănh
đạo của thành phố, đă giúp Vơ trần Chí và
nhóm Nguyễn vĩnh Nghiệp đẩy Phan văn
Khải ra Hà-nội bằng một số "tang
chứng" cụ thể; đă làm lớn vụ
Đường xuân quán nhưng lại cho ch́m luôn vụ
cháy Immexco, cũng như các vụ bê bối khác của con
rể Nguyễn vĩnh Nghiệp (chủ tịch thành
phố Sài-g̣n, thay Phan văn Khải) v.v... cũng
như của Ba Thi (giám đốc công ty lương
thực Sài-g̣n) là người làm kinh tài riêng cho giới
chức cộng sản "miền Nam". Cho nên
Nguyễn hữu Khương đă nhanh chóng
được nhận chức giám đốc thực
thụ của Sở công an Sài-g̣n và
đeo lon đại tá. Giờ đây, đại tá
Nguyễn hữu Khương được vào quốc
hội khóa 9 chính là do ư đồ của nhóm miền Nam
(cộng sản) muốn đánh bóng lá bài này, chuẩn
bị cho việc giành giật chỗ đứng trong ngành
công an của cả nước. V́ công an
không chỉ là công cụ chuyên chính của chế
độ, mà lúc này, cái lúc "mở cửa" làm ăn
buôn bán, các chức sắc cộng sản chóp bu ở
cả hai miền Nam và Bắc của Việt Nam
đều cho vợ con, họ hàng và tay chân thân tín "bung
ra" làm ăn kinh tế, cố vơ vét thật nhiều
đề pḥng khi nhân dân nổi dậy c̣n "dọt"
ra nước ngoài có vàng và dollars Mỹ mà xài, độ vài
đời, th́ phải có người trong phe ḿnh nắm
chức vụ chủ chốt trong ngành công an và hải quan
để bảo vệ và giúp đỡ cho những
"dịch vụ bê bối" được thuận
buồm xuôi gió. Đó cũng là lư do giám đốc hải
quan Sài-g̣n mới vừa bị đ́nh chỉ công tác
nhưng có lẽ lại được thăng lên tổng
cục phó hải quan!(?)
Bản hiến pháp 1992
của cộng sản Việt Nam đă ra đời. Dù cho có
cởi mở tư chút trong bầu cử quốc hội bù
nh́n khóa 9 lần này th́ cũng chẳng ai làm ǵ vượt
được ra ngoài quỹ đạo mà hiến pháp qui
định cho đảng cộng sản địa
vị độc quyền cai trị đất
nước; phải xây dựng chủ nghĩa xă hội
(nghĩa là điều khỏan cho phép đến một
lúc nào đó có thể ăn cướp của dân
dưới h́nh thức gọi là "thủ tiêu quyền tư
hữu về tư liệu sản xuất"; phải
lấy tư tưởng Hồ chí Minh làm gốc (nghĩa
là được phép vô liêm sỉ trong ứng cử).
Tuy nhiên, qua
lần bầu quốc hội bù nh́n khóa 9 lần này, chúng ta
thấy được sự lúng túng của giới
chức cầm quyền cộng sản trước cao trào
giành dân chủ thực sự của nhân dân Việt Nam;
thấy được sự phân hóa trong giới lănh
đạo, chia thành bè nhóm; và nhất là thấy
được ḷng dân Việt Nam quá chán ghét và căm
phẫn những ǵ là "cộng sản".
Đối với
cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại,
những ai c̣n lăm le "đi đêm" để
"theo đóm ăn tàn" của cộng sản hăy nh́n
vào tấm gương "thí quân" mà Ngô Bá Thành là nạn
nhân tự nguyện.
Ngày 15-8-1992